Tìm kiếm...

PHONGCHONGBAOLUC

thống kê truy cập

3769046
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả ngày:
536
1770
10541
869860
26306
66835
3769046

Your IP: 3.236.137.92
2020-09-18 07:29

THÔNG BÁO THI TUYỂN CHỨC DANH PHÓ TRƯỞNG PHÒNG LAO ĐỘNG HUYỆN TÂN LẠC

Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 - huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.

Link dowload toàn bộ tài liệu: https://drive.google.com/open?id=10TLep_Iu5gm8LefSdXdZx81CiIgDsPxI

 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Quá trình khai thác sử dụng đất đai luôn gắn liền với quá trình phát triển xã hội. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng đất càng cao, trong khi đó đất đai lại có hạn, chính vì vậy việc sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững luôn là nhu cầu cấp thiết, đòi hỏi phải hoạch định cụ thể và khoa học.

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định tại Khoản 1 Điều 54 “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật”.

Luật Đất đai năm 2013 tại Điều 22 Khoản 4 quy định "Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai" và tại Điều 45 Khoản 3 quy định "Ủy ban nhân dân cấp huyện trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp huyện".

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, trong sự phát triển hài hòa, cân đối của từng địa phương và của đất nước theo nền kinh tế thị trường. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở để Nhà nước quản lý thống nhất toàn bộ đất đai theo hiến pháp và pháp luật, đảm bảo đất đai được sử dụng tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả cao nhất.

                                Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định từ Điều 7 đến Điều 12 tại Nghị Định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ và Thông Tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/06/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn Quy trình điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và lập kế hoạch sử dụng đất năm đầu của điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện tại Chương III - Mục 2 (Điều 59; 60, 61; 62; 63; 64).

                                Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) huyện Tân Lạc đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình phê duyệt vào ngày 15 tháng 11 năm 2013 theo Quyết định số 2779/QĐ-UBND.

                Trên cơ sở quy hoạch đã phê duyệt, Ủy ban Nhân dân huyện đã chỉ đạo các ngành, các cấp của huyện tiến hành lập kế hoạch hàng năm và tổ chức thực hiện những nội dung cơ bản trong phương án quy hoạch sử dụng đất đã đề ra và đã đạt được một số kết quả khả quan về quản lý, khai thác tài nguyên đất hiệu quả và bền vững. Tuy nhiên, việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giữa các ngành chưa được tiến hành đồng bộ, hiệu quả chưa cao. Việc bố trí vốn để thực hiện các công trình, dự án có sử dụng đất chưa đảm bảo đúng tiến bộ theo kế hoạch đã được duyệt. Một số phương án quy hoạch chưa được dự báo sát với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, chưa lường hết những khó khăn trong quá trình thi công, giải phóng mặt bằng, vốn đầu tư dẫn đến quy hoạch treo không thực hiện được.

Thực tế phát sinh nhu cầu sử dụng đất và sự điều chỉnh phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện từ nay đến năm 2020 đòi hỏi phải rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sử dụng đất cho phù hợp với tình hình mới. Được sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình, cùng với sự giúp đỡ, phối hợp của Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân huyện Tân Lạc tổ chức triển khai lập “Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình”. 

I. MỤC TIÊU, YÊU CẦU ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH

                1. Mục tiêu

- Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của huyện đến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất năm 2016 nhằm phát huy tốt nguồn lực đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, bảo đảm phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội mà nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2020 đề ra.

                - Điều chỉnh một số chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất của huyện đến năm 2020 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình phê duyệt tại Quyết định số 2779/QĐ-UBND, ngày 15 tháng 11 năm 2013 cho phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện thời kỳ 2016- 2020 và quy hoạch sử dụng đất cả tỉnh giai đoạn 2016-2020.

                - Làm cơ sở cho các cấp, các ngành quản lý sử dụng đất đai và  thực hiện việc giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất và chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện theo đúng Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ .

2. Yên cầu

                Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất của huyện Tân Lạc đến năm 2020 phải đạt các yêu cầu sau đây:

- Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện giai đoạn 2011-2015 đã được phê duyệt. Làm rõ những vướng mắc, khó khăn, bất cập trong việc lập, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để thực hiện điều chỉnh trong giai đoạn 2016-2020.

                - Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất phải trên cơ sở phân bổ sử dụng đất của tỉnh trên địa bàn; xác định đầy đủ nhu cầu sử dụng đất của các ngành, đảm bảo bố trí, phân bổ quỹ đất hợp lý, đáp ứng tốt nhất nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn 2016-2020.

                - Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 phải nêu được cụ thể về quy mô, địa bàn các loại đất cần điều chỉnh so với quy hoạch đã được duyệt và lý do điều chỉnh.

II. BỐ CỤC CỦA BÁO CÁO

                Báo cáo Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất năm 2016 huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình được nghiên cứu xây dựng theo Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài Nguyên và Môi trường. Báo cáo thuyết minh tổng hợp bao gồm các phần sau:

                - Đặt vấn đề

- Phần I: Sự cần thiết điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất;

                - Phần II: Phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất;

                - Phần III: Kế hoạch sử dụng đất năm 2016           

                - Phần IV: Giải pháp thực hiện

                - Kết luận và kiến nghị

III. SẢN PHẨM 

                - Báo cáo thuyết minh tổng hợp điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình;

                - Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2015 của huyện Tân Lạc, tỷ lệ 1/25.000;

                - Bản đồ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của huyện Tân Lạc, tỷ lệ 1/25.000;

- Đĩa CD ghi dữ liệu báo cáo, bản đồ.

Phần I

SỰ CẦN THIẾT ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

I. CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

Việc lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất năm 2016 của huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình được dựa trên những căn cứ sau:

                1. Căn cứ pháp lý lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của huyện

- Luật Đất đai năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

                - Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 3 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về thị hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng;

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;

- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ Quy định về thu tiền sử dụng đất;

- Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;

- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

                - Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa;

                - Nghị quyết số 43/NQ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ về quy hoạch quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) tỉnh Hòa Bình;

- Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 06 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

- Quyết định số 917/QĐ-TTg ngày 11 tháng 6 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hòa Bình đến năm 2020;

- Quyết định số 1314/QĐ-UBND ngày 25 tháng 9 năm 2012 của UBND tỉnh Hòa Bình phê duyệt đồ án Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Hòa Bình đến năm 2020;

- Quyết định số 439/QĐ-UBND ngày 16 tháng 4 năm 2013 của UBND tỉnh Hòa Bình phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển giao thông vận tải tỉnh Hòa Bình đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;

- Quyết định số 2779/QĐ-UBND ngày 15 tháng 11 năm 2013 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.

- Nghị Quyết số 127/NQ-HĐND ngày 03 tháng 12 năm 2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc thông qua danh mục các dự án cần thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất năm 2016;

- Quyết định số 2599/QĐ-UBND ngày 03 tháng 12 năm 2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc Phê duyệt Kế hoạch đầu tư công năm 2016;

- Quyết định số 1800/QĐ-UBND ngày 20-9-2017 của UBND tỉnh về việc phê duyệt chi tiết nhiệm vụ mô hình thí điểm tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Tân Lạc giai đoạn 2011 – 2020;

- Quy hoạch phát triển các ngành kinh tế trên địa bàn huyện;

- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới các xã của huyện Tân Lạc;

- Văn số 979/UBND-CNXD ngày 24-7-2017 của UBND tỉnh về việc thực hiện các quy định về xác định giới hạn và cắm mốc giới hạn đất danh cho đường bộ đối với các dự án xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo.

                - Văn bản số 160/VPUBND ngày 20-9-2017 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc thực hiện kiến nghị, đề xuất của Ban Dân vận Tỉnh ủy về công tác tôn giáo.               - Kế hoạch số 124/KH-UBND ngày 30-8-2017 của UBND tỉnh về việc thực hiện Đề án phát triển thể dục, thể thao tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030.

                - Văn bản số 1510/UBND-NNTN ngày 24 tháng 10 năm 2017 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc phân bổ chi tiêu sử dụng đất cấp tỉnh (tạm thời).

2. Cơ sở thông tin số liệu, tư liệu bản đồ

- Số liệu kiểm kê đất đai năm 2014 của huyện Tân Lạc;

- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 của huyện Tân Lạc và bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Tân Lạc;

- Bản đồ đo đạc địa chính chính quy các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Tân Lạc;

- Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2011 – 2015 của huyện Tân Lạc;

- Niên giám thống kê tỉnh Hòa Bình năm 2014;

- Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 của huyện Tân Lạc;

- Báo cáo tổng kết 05 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015;

- Các tài liệu khác có liên quan.

II. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ BỔ SUNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT

1. Phân tích, đánh giá bổ sung điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên và thực trạng môi trường

1.1. Điều kiện tự nhiên

1.1.1. Vị trí địa lý

Tân Lạc là một huyện miền núi, có vị trí chiến lược quan trọng, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Hòa Bình, nơi có những đầu mối giao thông chủ yếu, là cửa ngõ ra vào vùng Tây Bắc của Tổ quốc và nối liền với Thủ đô Hà Nội.

Huyện Tân Lạc cách thành phố Hoà Bình khoảng 30 km, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội khoảng 110 km. Tọa độ địa lý ở vào khoảng 20027’35” – 20035’95” vĩ độ Bắc, 10506’25”-105023’23” kinh độ Đông.

                - Phía Bắc giáp huyện Đà Bắc.

                - Phía Nam giáp huyện Lạc Sơn.

                - Phía Đông giáp huyện Cao Phong.

                - Phía Tây giáp huyện Mai Châu và huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.

1.1.2. Địa hình, địa mạo

Địa hình Tân Lạc khá phức tạp, có dãy Trường Sơn chạy dọc theo chiều dài của huyện, đất đai bị chia cắt bởi hệ thống suối, đồi núi và thấp dần về hướng Đông Nam. Địa hình Tân Lạc được chia thành 3 vùng rõ rệt:

- Vùng cao gồm các xã nằm trên dải Trường Sơn chạy dọc phần phía Tây của huyện (Nam Sơn, Bắc Sơn, Quyết Chiến, Lũng Vân, Ngổ Luông), có độ cao trung bình từ 600 đến 800 mét. Vùng này có nhiều núi trùng điệp cao thấp bám sát nhau, xen kẽ là những thung lũng nhỏ hẹp, có đỉnh núi Thạch Bi cao 1.108m, núi Toàn Thắng cao 1.105m.

- Vùng giữa gồm các xã nằm dọc phía Đông dãy Trường Sơn: Ngòi Hoa, Trung Hoà, Phú Vinh, Phú Cường. Vùng này có độ cao trung bình từ 200 đến 300 mét với nhiều đồi núi, khe suối, xen vào đó là các bãi bằng hẹp nằm rải rác.

                                - Vùng thấp gồm 14 xã hạ huyện và thị trấn Mường Khến nằm dọc theo Quốc lộ 12B và tỉnh lộ 436. Độ cao trung bình 150 - 200m, với 2 thung lũng nhỏ hẹp chạy dọc theo 2 hệ thống suối chính (suối Chù và suối Cái) tạo thành 2 cánh đồng lúa chủ yếu của huyện.

1.1.3. Khí hậu

                                Do nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, nên khí hậu ở Tân Lạc mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa trong năm, phân thành 2 mùa khá rõ, mùa mưa nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô mát lạnh từ tháng 11 đến tháng 4.

                                - Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm 22,90C, nhiệt độ trung bình cao nhất 28,10C, nhiệt độ trung bình thấp nhất 20,40C, nhiệt độ tuyệt đối cao nhất 390C, nhiệt độ tuyệt đối thấp nhất 6,60C. Nhiệt độ cao nhất trong năm thường từ tháng 6 đến tháng 9, nhiệt độ thấp nhất trong năm thường từ tháng 1 đến tháng 2. Nhiệt độ giữa các vùng có sự khác nhau, ở vùng cao nhiệt độ các tháng lạnh nhất thấp hơn vùng thấp từ 2-30C và mùa đông đến sớm, kết thúc muộn.

                                - Lượng mưa: trung bình hàng năm cao (2.000 mm), mưa tập trung vào các tháng từ tháng 6 đến tháng 9. Mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 15% lượng mưa cả năm. Các xã vùng cao, vùng thượng có lượng mưa cao hơn vùng thấp.

                                - Độ ẩm không khí: bình quân 81,6%, độ ẩm cao nhất 89,0%, độ ẩm thấp nhất 78%. Độ ẩm thường cao vào những tháng cuối xuân đầu hè.

                                - Các hiện tượng thời tiết khác: Sương mù thường xuất hiện vào tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Sương muối trung bình có từ 5 - 7 ngày, thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1.

                                - Số giờ nắng: Tháng nắng nhất trong năm là tháng 7 (239,5 giờ), tháng ít nắng nhất là tháng 3 (94,5 giờ).

Với đặc điểm khí hậu của huyện như trên, cho phép trên địa bàn huyện có thể phát triển nền sản xuất nông nghiệp đa dạng, bố trí nhiều vụ cây trồng trong năm. Tuy nhiên, để phát huy lợi thế so sánh về điều kiện khí hậu ở từng khu vực địa hình trên địa bàn huyện, cần xác định cơ cấu sản xuất hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và mức sống của nhân dân.

1.2. Các nguồn tài nguyên

1.2.1. Tài nguyên đất

                                Do sự chi phối của địa hình, sự tác động tổng hợp của các điều kiện tự nhiên và quá trình khai thác sử dụng đất của cộng đồng dân cư, nên trên địa bàn huyện Tân Lạc có các nhóm đất chính sau đây:

                                - Đất phù sa: Diện tích khoảng 362,2 ha, chiếm 0,68% diện tích tự nhiên toàn huyện, với 3 loại đất là đất phù sa không được bồi (144,4 ha), đất phù sa glây (149 ha) và đất phù sa ngòi suối (68,8 ha). Nhóm đất này phân bố dọc theo các con suối lớn, tạo nên những cánh đồng tương đối màu mỡ và được sử dụng để trồng lúa, hoa màu lương thực.

                                - Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính: Diện tích 9.078,4 ha, chiếm 17,10% diện tích tự nhiên. Có thể nói đây là loại đất tốt của huyện về mặt tính chất đất cho cây trồng, tuy nhiên do có độ dốc lớn nên khó khăn cho việc canh tác, sản xuất nông lâm nghiệp.

                                - Đất nâu đỏ trên đá phiến sét: Diện tích 11.319,5 ha, chiếm 21,32% diện tích tự nhiên, là loại đất có diện tích lớn nhất trong huyện, phân bố ở hầu hết các xã trong huyện thích hợp trồng cây lâu năm như cây công nghiệp, cây ăn quả và phát triển lâm nghiệp.

                                - Đất nâu đỏ trên đá vôi: Diện tích 10.712,7 ha, chiếm 20,18% diện tích tự nhiên. Đa số các đất nâu đỏ trên đá vôi có kết cấu tốt, độ phì nhiêu tự nhiên tương đối cao. Yếu tố hạn chế lớn nhất đến sản xuất nông lâm nghiệp là độ dốc. Có thể bố trí trồng cây hoa màu, cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả (nhãn, vải, cam, chanh).

                                - Đất vàng đỏ trên đá mác ma axít: Diện tích 152,6 ha, chiếm 0,29% diện tích tự nhiên. Đất chua, thành phần dinh dưỡng trung bình đến nghèo. Hướng sử dụng chủ yếu là khoanh nuôi tái sinh rừng, ở những khu đồi đất thấp có thể sử dụng trồng cây ăn quả.

                                - Đất vàng nhạt trên đá cát: Diện tích 5.992,1 ha, chiếm 11,29% diện tích tự nhiên toàn huyện. Đây là loại đất có tầng mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, nghèo dinh dưỡng, phân bố ở địa hình bị chia cắt mạnh. Nhóm đất này được sử dụng để phát triển lâm nghiệp và nông -  lâm kết hợp.

                                - Đất mùn nâu đỏ trên đá vôi: Diện tích 3.521,7 ha, chiếm 6,63% diện tích tự nhiên, là loại đất có độ dốc lớn. Nhóm đất này chủ yếu được sử dụng để khoanh nuôi, bảo vệ rừng kết hợp trồng các loại cây dược liệu ưa ẩm độ và nhiệt độ thấp.

                                - Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa: Diện tích là 2.807 ha, chiếm 5,29% diện tích tự nhiên. Đây là loại đất hình thành do canh tác lúa lâu đời đã làm biến đổi tính chất đất, là nhóm đất tương đối tốt, được sử dụng trồng lúa và hoa màu lương thực.

                                - Đất vàng đỏ trên đá phiến sét và đá biến chất: Diện tích 1.401,3 ha, chiếm 2,64% diện tích tự nhiên toàn huyện. Loại đất này được phân bố chủ yếu trên địa hình đồi núi cao, độ dốc lớn, nên được sử dụng để khoanh nuôi bảo vệ rừng.

                                - Đất dốc tụ: Diện tích 1.449,7 ha, chiếm 2,73% diện tích tự nhiên. Đây là loại đất hình thành từ các vật liệu không gắn kết, thích hợp với trồng cây hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày.

                                - Đất xói mòn trơ sỏi đá: Diện tích 3.275,7 ha chiếm 6,17% diện tích tự nhiên. Nhóm đất này thường có thảm thực vật thưa thớt, đang bị tác động mạnh của xói mòn và trơ sỏi đá trên bề mặt.

                                Như vậy do địa hình chia cắt phức tạp, núi non hiểm trở, độ dốc lớn (trung bình 30 - 35o) nên đất đai của huyện không đồng nhất. Các loại đất ở địa hình đồi núi (đất đỏ và đất mùn) chiếm gần 85% diện tích tự nhiên; tỷ lệ diện tích đất đồng bằng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp quá thấp (khoảng 3,5%) chứng tỏ sự hạn chế về khả năng sản xuất lương thực của huyện. Ngược lại thế mạnh của huyện là sự đa dạng hoá cây trồng cạn (cây công nghiệp, cây ăn quả, hoa màu ngắn ngày...), chăn nuôi gia súc và sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp.

Với tài nguyên đất của huyện như trên, tính đến hết năm 2015 đất đai của huyện hiện đã được khai thác đưa vào sử dụng 52,03 nghìn ha, chiếm tới 98,01% quỹ đất đai của huyện. Trong đó sử dụng cho nông nghiệp là 46.635,10 ha, đất phi nông nghiệp là 5.398,24 ha và đất chưa sử dụng còn lại 1.055,77 ha.

1.2.2. Tài nguyên nước

                                * Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt ở Tân Lạc được cung cấp bởi 3 hệ thống suối và 5 hồ lớn. Dưới đây là tình hình cụ thể về tài nguyên nước mặt của huyện.

                                - Suối Chù: Bắt nguồn từ xã Phú Vinh, Trung Hòa, chạy theo thung lũng dọc theo đường 12B về phía Đông Nam; diện tích lưu vực 350 km2. Đây là một trong hai suối chính cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp của huyện.

                                - Suối Cái: Bắt nguồn từ xã Phong Phú và Phú Cường, chạy theo thung lũng Mường Bi dọc theo đường 12C (cũ) về phía Đông Nam; diện tích lưu vực 230 km2. Đây là nguồn nước mặt cung cấp nước tưới chính cho cánh đồng Mường Bi và các vùng đất nông nghiệp hai bên đường 12C (cũ).

                                - Suối Hoa: Bắt nguồn từ Thung Nai, huyện Cao Phong, chảy qua phía Bắc huyện rồi đổ vào sông Đà, diện tích lưu vực 250 km2.

                                - Các hồ chứa: Trên địa bàn huyện có 5 hồ chứa lớn: hồ Bưng, hồ Bông Canh, hồ Chù Bụa, hồ Bui Phoi và hồ Trọng.

                                * Nguồn nước ngầm: Hiện nay chưa có khảo sát kỹ về nguồn nước ngầm trong huyện, nhưng các địa phương ở vùng thấp đã phát hiện có nguồn nước giếng ở mạch sâu, còn ở vùng cao, nguồn nước ngầm không đồng nhất ở các vị trí khác nhau. Do đó trong quy hoạch, cần khảo sát và tính toán trữ lượng nước của từng điểm cụ thể để cung cấp nước cho sinh hoạt và một phần nước cho sản xuất.

1.2.3. Tài nguyên rừng

                                Theo số liệu hiện trạng sử dụng đất đai năm 2015, trên địa bàn huyện Tân Lạc hiện có 35.517,64 ha đất lâm nghiệp (chiếm 66,9% tổng diện tích đất tự nhiên), bao gồm: Rừng đặc dụng 5.476,82 ha; rừng phòng hộ 15.282,8 ha; rừng sản xuất 14.758,0 ha. Trong đó, diện tích đất có rừng là 29.168 ha (chiếm 82,12% tổng diện tích đất lâm nghiệp).

                                Nhìn chung hệ thực vật rừng khá phong phú; trong các khu rừng tự nhiên có tới 20 loài cây rừng tương đối phổ biến, trong đó có một số loại quý như dẻ, dổi, táu, sến...

                                Về trữ lượng nhìn chung thấp, rừng giàu và rừng trung bình còn rất ít, chủ yếu là rừng nghèo, theo điều tra sơ bộ có tới 60% là rừng non, trữ lượng rất thấp. Nguyên nhân của tình trạng này là do việc khai thác bừa bãi, tập tục đốt rừng làm rẫy của người dân và việc quản lý chưa chặt chẽ.

                                Do rừng tự nhiên bị suy thoái, môi trường sống của động vật rừng bị thu hẹp nên các loại thú quý hầu như không còn, hiện chỉ còn một số loại, như lợn rừng, khỉ, cầy, cáo, gà rừng, nai... nhưng số lượng không nhiều.

1.2.4. Tài nguyên khoáng sản

                Tài nguyên khoáng sản của huyện chủ yếu là đá vôi, với nhiều núi đá vôi có thể khai thác, sử dụng để sản xuất vật liệu xây dựng. Ngoài ra huyện còn có một số khoáng sản khác như quặng sắt, vàng sa khoáng, ăng ti mon, than đá... Tuy nhiên các loại này có trữ lượng thấp nên không thuận lợi cho khai thác công nghiệp.

1.2.5. Tài nguyên nhân văn

                                Trên địa bàn huyện phần lớn dân số là người Mường (chiếm 84,5% tổng dân số); ngoài ra còn có 15% người Kinh và 0,5% các dân tộc khác. Tân Lạc có nền văn hóa lâu đời với kho tàng văn hóa dân gian khá phong phú, bao gồm các thể loại thơ dài, bài mo, truyện cổ dân gian, dân ca, ví đúm, tục ngữ. Trong đó nền văn hóa Mường Bi là nền văn hóa đặc trưng với nhiều lễ hội, như hội Đooc Moong, hội ném còn, hội xuống đồng, hội cầu mưa, lễ rửa lá lúa, lễ cơm mới, lễ hội khai hạ... Trong đó phải kể đến lễ hội khai hạ Mường Bi; đây là lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc Mường được tổ chức vào ngày mồng 8 tháng 3 âm lịch hàng năm. Đến với Lễ hội du khách sẽ được thưởng thức âm vang của tiếng cồng chiêng, uống rượu cần, các món ăn dân tộc...

                Trong lịch sử phát triển, các dân tộc anh em của Tân Lạc đã cùng nhau góp sức xây dựng huyện Tân Lạc ngày càng giàu đẹp. Mặc dù phong tục tập quán có những nét khác nhau nhưng ngày nay trong sản xuất đã có nhiều điểm tương đồng (cùng làm lúa nước và các cây màu ngô, đỗ tương, trồng cây ăn quả, chăn nuôi trâu bò, lợn,...). Trình độ văn hoá, khả năng ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất không ngừng được cải thiện và nâng cao. Giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng, các dân tộc được khuyến khích và ngày càng phát triển.

                Cảnh quan môi trường của huyện Tân Lạc đa dạng, phong phú và đẹp, với nhiều hang động đã được xếp hạng, tạo ra các điểm du lịch sinh thái, văn hóa góp phần phát triển kinh tế của huyện, như khu quần thể di tích lịch sử văn hóa Mường Bi; làng Mường cổ xóm Ải xã Phong Phú; động Hoa Tiên, động Thác Bờ, hang Bưng ở xã Ngòi Hoa; động Mường Chiềng ở khu 2 thị trấn Mường Khến; khu du lịch sinh thái núi Cột cờ (tiếng địa phương gọi là  Khụ Dọi); thác Trăng hai tầng ở xã Do Nhân; động Tớn ở xã Nam Sơn; núi đá vôi Pù Luông; Hang Muối, hang Bụt ở khu 3 thị trấn Mường Khến.

Với nền văn hoá Mường đậm đà bản sắc dân tộc; truyền thống cách mạng, cần cù sáng tạo, ý chí tự lực tự cường, khắc phục khó khăn của cộng đồng dân tộc cư trú trên địa bàn huyện và những danh lam thắng cảnh. Nếu các cấp chính quyền quan tâm đến việc giữ gìn phát huy bản sắc dân tộc; kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, những thành quả đạt được; phát triển đa dạng các loại hình du lịch (du lịch sinh thái, leo núi, du lịch thăm thắng cảnh, văn hoá...) sẽ góp phần phát triển mạnh kinh tế - xã hội của huyện trong giai đoạn tới.

1.3. Thực trạng môi trường

Là một huyện miền núi có tỷ lệ che phủ rừng năm 2015 đạt khoảng 51,8% và hiện tại là huyện thuần nông, công nghiệp, đô thị đang được hình thành, chưa phát triển mạnh, nên hiện tại mức độ ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất đai ở Tân Lạc chưa nghiêm trọng.

1.3.1. Môi trường đất

Chất lượng môi trường đất Tân Lạc hiện nay đang bị tác động mạnh và có chiều hướng suy giảm, một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm môi trường đất như sau:

 - Do thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học sử dụng không đúng quy cách, bao bì, vỏ chai vứt bừa bãi trên đồng rộng; trong khi đó phân chuồng từ chăn nuôi lại xả trực tiếp ra môi trường, nhiều nơi còn sử dụng nước thải ra không qua xử lý để tưới.

- Do các hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và sinh hoạt là nguồn gây ô nhiễm đất một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Nguồn gây ô nhiễm trực tiếp là khi chúng được thải trực tiếp vào môi trường đất, nguồn gây ô nhiễm gián tiếp là chúng được thải vào môi trường nước, môi trường không khí nhưng do quá trình vận chuyển, lắng đọng chúng di chuyển đến đất và gây ô nhiễm đất.

- Do đặc điểm địa hình là miền núi nên các hiện tượng rửa trôi, sạt lở do mưa lũ, xói mòn đất cũng làm thay đổi hệ sinh thái trong môi trường đất, làm thoái hóa đất, suy thoái, ô nhiễm môi trường đất.

1.3.2. Môi trường nước

Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các sông, suối, ao hồ ở huyện là vấn đề cần được quan tâm.

Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn ngày càng gia tăng do dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc chưa được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao.

1.3.3. Môi trường không khí

Ô nhiễm không khí đang là một vấn đề đối với môi trường đô thị, cụm công nghiệp trên địa bàn huyện, tuy nhiên chưa đến mức quá nghiêm trọng. Ô nhiễm môi trường không khí có tác động xấu đối với sức khoẻ con người, ảnh hưởng xấu đến các hệ sinh thái và gây biến đổi khí hậu.

 

Ngoài ra còn các khí phát sinh từ giao thông, bụi, hoạt động sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu ở nông thôn như: Dùng phân bón không đúng liều lượng và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cũng tạo ra một lượng khí thải tuy chưa gây hại nhiều đến sức khỏe người dân.

 Từ những vấn đề trên, trong những năm tới cần tăng cường tuyên truyền Luật bảo vệ môi trường, chỉ đạo sát sao việc kiểm tra công tác bảo vệ môi trường, cương quyết xử lý các trường hợp vi phạm về bảo vệ môi trường và cần dự kiến trước các biện pháp để kịp thời ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục ô nhiễm, bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái trên địa bàn huyện.

2. Phân tích, đánh giá bổ sung thực trạng phát triển kinh tế - xã hội.[1]

Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tân Lạc 5 năm giai đoạn 2011 – 2015 chịu sự tác động sâu sắc của tình hình kinh tế thế giới và trong nước bị suy thoái, đầu tư công bị cắt giảm. Tuy nhiên nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện, sự vào cuộc của các cấp, các ngành, sự nỗ lực của nhân dân trong huyện cho nên tình hình kinh tế xã hội của huyện tiếp tục phát triển, kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, cơ sở hạ tầng được đầu tư nâng cấp, đời sống sinh hoạt, văn hoá tinh thần của nhân dân được nâng cao. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

2.1. Thực trạng phát triển kinh tế

2.1.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong 5 năm qua (2011 - 2015) kinh tế của huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực, tăng trưởng kinh tế ổn định, bình quân đạt 11,8%/năm. Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 25,9 triệu đồng/năm.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 40,5%, giảm 3,8% so với năm 2010; công nghiệp - xây dựng chiếm 24%; dich vụ chiếm 35,5%.

2.1.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

a) Khu vực kinh tế nông nghiệp

Trong 5 năm qua, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản vẫn giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của huyện. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu tổng sản phẩm xã hội (40,5%). Các ngành, các cấp đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá; thực hiện có hiệu quả về đổi mới cơ cấu giống, mùa vụ, tăng cường đầu tư thâm canh, ứng dụng TBKT, đưa các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với thị trường vào sản xuất, nên giá trị hàng hoá nông nghiệp tăng nhanh. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất khu vực nông, lâm, nghiệp, thủy sản đạt 8,3%/năm. Dưới đây là một số nét về tình hình phát triển của từng ngành cụ thể trong nông, lâm nghiệp, thủy sản.

* Trồng trọt

Thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định đời sống nông dân. Trong 5 năm qua, trên địa bàn huyện đã cơ bản hoàn thành chuyển diện tích ruộng 1 vụ lên thành 2 - 3 vụ; ổn định quy hoạch diện tích đất trồng lúa, triển khai chuyển diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao. Kết hợp giữa chuyển đổi cơ cấy cây trồng với tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm, tăng thu nhập cho nông dân.

Kết quả, trong 5 năm, diện tích đất gieo trồng của huyện bình quân hàng năm đạt 13.723 ha, trong đó đất trồng lúa đạt 4.638 ha. Tổng giá trị ngành trồng trọt đạt 467,589 tỷ đồng, chiếm 67% trong cơ cấu nông nghiệp. Tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt 41.539 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 503 kg/năm. Kết quả cụ thể một số loại cây trồng như sau:

- Cây lúa: Diện tích gieo trồng giai đoạn 2011 - 2015 hàng năm bình quân đạt 4.760 ha. Năm 2015, diện tích gieo trồng đạt 4638 ha, năng suất lúa đạt 52,46 tạ/ha, sản lượng lúa cả năm đạt 24.330 tấn.

- Cây ngô: Năm 2015, diện tích gieo trồng đạt 3.886,9 ha; năng suất 44,3 tạ/ha; sản lượng đạt 17.209,9 tấn.

- Cây mía: Diện tích gieo trồng tăng từ 1.500 ha năm 2011 lên 1.856,6 ha năm 2015; năng suất bình quân đạt 730 tạ/ha; sản lượng đạt 118.780 tấn.

- Cây lạc: Diện tích gieo trồng bình quân hàng năm đạt 288 ha; năng suất bình quân đạt 14,6 tạ/ha; sản lượng đạt 420 tấn.

- Cây ăn quả có múi: diện tích trồng cây có múi tăng dần, quy trình kỹ thuật chăm sóc được áp dụng rộng rãi hơn. Trong đó, cây bưởi diện tích trồng 156,6 ha, diện tích cho thu hoạch đạt 53,8 ha, sản lượng đạt 897,7 tấn; cây cam diện tích trồng 20,7 ha, diện tích cho thu hoạch 14,4 ha, sản lượng đạt 171 tấn; cây quýt diện tích trồng 42 ha, diện tích cho thu hoạch 26 ha, sản lượng đạt 145 tấn.

* Chăn nuôi

Chăn nuôi của huyện trong 5 năm qua phát triển khá ổn định, giá trị sản xuất ngày càng tăng. Tập quán chăn nuôi dần thay đổi, trình độ tham canh trong chăn nuôi ngày một nâng cao, đã có nhiều điển hình chăn nuôi giỏi và quy mô đàn tương đối lớn.

Chăn nuôi hiện nay đã chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập của hộ gia đình khu vực nông thôn. Tổng đàn vật nuôi được duy trì ổn định, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng (bình quân cả giai đoạn) đạt 4.490 tấn. Cụ thể:

- Chăn nuôi đại gia súc có xu hướng giảm dần (do đẩy mạnh thực hiện cơ giới hóa trong khâu làm đất).

+ Đàn trâu, năm 2010 có 14.620 con, đến năm 2015 giảm xuống còn 14.100 con;

+ Đàn bò, năm 2010 có 9.190 con, đến năm 2015 giảm xuống còn 8.100 con;

- Đàn lợn phát triển mạnh theo hướng nạc hóa, năm 2010 có 35.100 con đến năm 2015 đạt 44.500 con, tốc độ tăng trong 5 năm qua bình quân đạt 6,15%/năm.

- Đàn gia cầm phát triển mạnh theo hướng chăn công nghiệp, chăn nuôi trang trại, gia trại. Năm 2010 có 387 nghìn con, đến năm 2015 tăng lên 526,7 nghìn con, tốc độ tăng trong 5 năm qua bình quân đạt 6,36%/năm.

* Thủy sản

Sản xuất thủy sản tiếp tục phát triển cả về quy mô, chất lượng và giá trị. Kỹ thuật nuôi trồng tiên tiến đã được áp dụng ở nhiều nơi, đặc biệt là khu vực lòng hồ sông Đà. Năm 2015, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 141 ha, số lồng nuôi cá 300 lồng.

* Lâm nghiệp

Là huyện miền núi với quỹ đất lâm nghiệp trên 35 nghìn ha, đây là một thế mạnh của huyện. Tuy nhiên, hiện nay giá trị sản xuất lâm nghiệp mới chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản.

- Bằng nhiều nguồn vốn, công tác trồng rừng trên địa bàn huyện trong những năm qua vẫn được duy trì thường xuyên, kết quả trong 5 năm toàn huyện đã trồng được trên 4.000 ha rừng.

- Đi đôi với việc trồng rừng, công tác khoanh nuôi tái sinh rừng cũng được duy trì thường xuyên, công tác quản lý, bảo vệ rừng được thực hiện nghiêm chỉnh, không những đem lại hiệu quả cho ngành lâm nghiệp, tạo vẻ đẹp cảnh quan, bảo vệ môi trường,... mà còn góp phần đáng kể làm tăng thu nhập cho các hộ gia đình. Tỷ lệ độ che phủ rừng đến năm 2015 đạt 51,8%. Thu nhập từ rừng sản xuất bình quân đạt 10 triệu đồng/ha/năm.

Bảng 1: Tình hình phát triển khu vực kinh tế nông nghiệp trong những năm qua

 

Hạng mục

Đơn vị

Năm 2010

 Năm 2015

1. Trồng trọt

 

 

 

   - Giá trị sản xuất (giá 2010)

Tr. đồng

334.906

           467.589

   - Tổng DT gieo trồng cây HN

Ha

12.844

            13.723

   - Diện tích lúa cả năm

Ha

4.783

              4.638

   - Diện tích ngô cả năm

Ha

3.859

              3.887

   - Sản lượng lương thực có hạt

Tấn

40.397

            41.539

2. Chăn nuôi

 

 

 

   - Giá trị sản xuất (giá 2010)

Tr. đồng

124.408

           133.422

   - Đần trâu

Con

14.620

            14.100

   - Đàn bò

Con

9.190

              8.100

   - Đàn lợn

Con

35.145

            44.500

   - Đàn gia cầm

1000 con

386,89

                 526,7

3. Lâm Nghiệp

 

 

 

   - Giá trị sản xuất (giá 2010)

Tr. đồng

21.147

            35.595

   - Diện tích rừng sản xuất

Ha

15.866

            14.710

4. Thủy sản

 

 

 

   - Giá trị sản xuất  (giá 2010)

Tr. đồng

8.328

            20.115

   - Diện tích nuôi thủy sản

Ha

125,8

                 141

   - Số lồng nuôi thả cá

Lồng

106

                 300

   - Sản lượng cá nuôi

Tấn

273

                 560

(* Nguồn: Niên giám thống kê huyện Tân lạc.)

                b) Khu vực kinh tế công nghiệp

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trong những năm qua đã có bước chuyển biến tích cực.

- Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp: Thực hiện chủ trương phát triển công nghiệp, trong những năm qua trên địa bàn huyện đã triển khai nhiều biện pháp thu hút đầu tư bằng các hình thức như mở hội nghị giới thiệu tiềm năng và quảng bá đầu tư, công bố các chính sách về ưu đãi đầu tư công nghiệp trên địa bàn huyện; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa các thủ tục đầu tư; thực hiện tốt công tác giải phóng mặt bằng; quản lý, khai thác có hiệu quả các cơ sở sản xuất, kinh doanh hoạt động trên các cụm công nghiệp đã được quy hoạch;

                Sản xuất tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển với các hình thức tổ chức (hộ gia đình, tổ hợp tác, hợp tác xã ...), nhiều thành phần kinh tế tham gia, trong đó kinh tế tập thể vẫn duy trì 22 hợp tác xã. Các ngành, nghề sản xuất chủ yếu: vật dụng cơ khí, sản xuất gạch không nung, mộc dân dụng, dệt may thổ cẩm...

                Năm 2015, tổng giá trị sản xuất công nghiệp đạt 413,56 tỷ đồng.

- Xây dựng: Trong 5 năm qua, thông qua các Chương trình, các dự án đầu tư của Nhà nước và tranh thủ nguồn vốn đầu tư của các cấp, huyện đã tập trung đầu tư các kết cấu hạ tầng thiết yếu như điện, đường giao thông, trường học, thuỷ lợi. Mạng lưới đường giao thông nông thôn được cải thiện đáng kể; toàn huyện đã có 219 km đường được bê tông hóa, tăng 2,5 lần so với năm 2010. Hệ thống công trình thủy lợi thường xuyên được sửa chữa, nâng cấp, xây mới; nhiều công trình thủy lợi lớn được đầu tư thi công. Hệ thống cung cấp nước sinh hoạt cho nhân dân được mở rộng, đến năm 2015 có 95% hộ dân được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Hệ thống lưới điện quốc gia đã xây dựng đến toàn bộ các xã và thị trấn của huyện, tỷ lệ hộ sử dụng điện lưới quốc gia cuối năm 2015 đạt khoảng 99,9%.

Năm 2015, tổng giá trị các loại nguồn vốn xây dựng trên địa bàn huyện ước thực hiện được 54 tỷ đồng.

                c) Khu vực kinh tế dịch vụ

                - Hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn huyện phát triển nhanh, hàng hóa ngày càng phong phú, đa dạng; bước đầu huyện đã có hàng hóa xuất khẩu, trong 5 năm kim ngạch xuất khẩu đạt 4,5 triệu USD, nhập khẩu đạt 1,2 triệu USD.

                Các ngành dịch vụ: giao thông vận tải, ăn uống, khách sạn, bảo hiểm, viễn thông... hoạt động có hiệu quả, từng bước đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh của người dân trên địa bàn. Năm 2015, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 740 tỷ đồng.

- Hoạt động du lịch được coi là thế mạnh tiềm năng của huyện Tân Lạc, trên địa bàn huyện có nhiều di tích văn hóa cấp quốc gia đó là: Hang Muối - Di tích khảo cổ, Động Mường Chiềng - Di tích thắng cảnh, Động Hoa tiên - Di tích danh thắng, Hang Bưng Di tích lịch sử, Động Thác Bờ, Động Nam Sơn Di tích danh thắng, Hang Bụt Di tích văn hóa cấp tỉnh, có lòng hồ Trung Hòa, Ngòi Hoa, có nhiều núi đá, rừng nguyên sinh, nhiều con suối nhỏ môi trường trong lành tạo nên phong cảnh đẹp.

                                Huyện đã xây dựng quy hoạch du lịch đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, cơ sở hạ tầng du lịch bước đầu đã được xây dựng theo quy hoạch. Năm 2015 Tân Lạc đã đón hơn 77.300 lượt khách đến địa bàn thăm quan du lịch. 

- Hoạt động thu - chi ngân sách: Công tác quản lý thu, chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện được tăng cường và quan tâm thường xuyên. Nguồn thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng ổn định và tăng trưởng khá. Năm 2010, tổng thu ngân sách Nhà nước đạt 17.438 triệu đồng, đến năm 2015 đạt 41.716 triệu đồng; thu ngân sách địa phương từ 202,72 tỷ đồng năm 2010 tăng lên 527,19 tỷ đồng năm 2015.

                                - Về chi ngân sách địa phương tăng nhanh, từ 199,12 tỷ đồng năm 2010 tăng lên 527,19 tỷ đồng năm 2015. Chi ngân sách huyện trong những năm qua đảm bảo các yêu cầu chi thường xuyên phục vụ các nhiệm vụ chính trị, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của huyện; quản lý chi tiết kiệm và hiệu quả;

- Về công tác tín dụng, ngân hàng trong những năm qua các ngân hàng trên địa bàn huyện đã tổ chức huy động vốn đáp ứng nhu cầu vay vốn của các đối tượng xã hội và các thành phần kinh tế vay vốn để sản xuất kinh doanh và đảm bảo cuộc sống. Ngân hàng Chính sách xã hội năm 2015 tổng nguồn vốn huy động có 205.818 triệu đồng, tổng dư nợ là 201.313 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng vốn tín dụng đạt 8,17%; Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, năm 2015 tổng nguồn vốn huy động đạt 232 tỷ đồng, tổng dư nợ thực hiện đến cuốn năm là 475 tỷ đồng.

2.2. Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

2.2.1. Dân số, lao động

                Theo báo cáo của chi cục Thống kê huyện Tân Lạc, dân số trung bình năm 2015 của huyện là 85.700 người với 20.246 hộ. Trong đó, dân số thành thị chiếm 5,6%. Thành phần dân tộc, chủ yếu là dân tộc Mường chiếm 85%, dân tộc Kinh 14,5% và các dân tộc khác là 0,5%.

Thời gian qua công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được triển khai và thực hiện thường xuyên; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên khoảng 1,26%/năm, chất lượng dân số và tuổi thọ bình quân ngày càng tăng.

                Dân số trong độ tuổi lao động năm 2015 khoảng 54,5 nghìn người, chiếm 63,59% dân số. Tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân là 49 nghìn người, chiếm 90% lao động trong độ tuổi. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề chiếm khoảng 43%.

2.2.2. Việc làm và thu nhập

- Về việc làm: Để tạo việc làm cho người lao động, trong những năm qua huyện đã có nhiều biện pháp, như lập dự án vay vốn giải quyết việc làm, khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển để thu hút lao động. Trong năm 2015, huyện đã tổ chức thành công phiên giao dịch việc làm với sự tham gia của 46 doanh nghiệp trong và ngoài nước. Kết quả năm 2015, ước tính có 1.500 lao động được tạo việc làm mới, đạt 100%KH.

Công tác đào tạo nghề, dạy nghề tiếp tục được mở rộng về quy mô, chất lượng được nâng cao, năm 2015 đã tổ chức được 22 lớp chủ yếu tập trung vào các nghề như: trồng cây có múi, may công nghiệp, sửa chữa máy nông nghiệp, chăn nuôi gà thả vườn, trồng nấm và điện công nghiệp.

- Về thu nhập: Trong những năm vừa qua, đời sống người dân trong huyện đã được cải thiện đáng kể. Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 6,28 triệu đồng, đến nay đạt 25,9 triệu đồng (tăng gấp 4 lần so với năm 2010).

- Công tác giảm nghèo: Trong 5 năm qua do có sự đầu tư mạnh mẽ của Nhà nước về phát triển hạ tầng, do thực hiện tốt việc lồng ghép các Chương trình, mục tiêu Quốc gia, các nguồn vốn vào công tác xóa đói, giảm nghèo, nên tỷ lệ hộ nghèo của huyện đã giảm đáng kể, đời sống của nhân dân các dân tộc trong huyện đã từng bước được cải thiện và ổn định. Năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo trong toàn huyện còn 11,82%, giảm 7,18% so với năm 2010.

2.3. Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn

2.3.1. Thực trạng phát triển đô thị

Về hệ thống đô thị, hiện nay huyện Tân Lạc có thị trấn Mường Khến là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của huyện. Diện tích đất thị trấn là 399,53 ha, dân số năm 2015 là 4.250 người. Dân số thị trấn hàng năm có biến động tăng lên nhưng thường chiếm tỷ lệ khoảng 5,3% tổng dân số toàn huyện. Dân cư chủ yếu sống tập trung ven Quốc lộ 6. Do có vị trí thuận lợi nên ở đây ngày càng phát triển mạnh các hoạt động buôn bán, dịch vụ không những phục vụ dân cư trong khu vực mà còn phục vụ khách du lịch, khách qua đường.

2.3.2. Thực trạng phát triển các khu dân cư nông thôn

                Dân số nông thôn của huyện Tân Lạc tính đến năm 2015 có 78.324 người, chiếm 94,87% dân số toàn huyện. Dân cư nông thôn ở Tân Lạc hiện đang cư trú ở trên 243 thôn, bản, thuộc 23 xã (5 xã vùng cao; 4 xã thượng huyện; 14 xã vùng hạ huyện). Các khu dân cư nông thôn được hình thành từ lâu đời với đặc trưng cộng đồng của nhân dân miền núi, nhân dân sống tập trung thành các bản, thôn. Các khu dân cư mới (hình thành do giãn dân, di dân có tổ chức) thường tập trung dọc theo các trục đường giao thông chính, hoặc ở tại các thung lũng nơi tập trung đất canh tác, tiện giao lưu; nhiều khu dân cư đã được cải tạo, mở rộng và nâng cấp cơ sở hạ tầng tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Về phân bố dân cư hiện tập trung chủ yếu ở các xã vùng hạ huyện (chiếm 72,76%, mật độ dân cư khoảng 215 người/km2); các xã Thượng huyện và vùng cao dân cư thưa thớt, mật độ dân số vùng Thượng huyện 96 người/km2, các xã vùng cao là 68 người/km2.

                                Tại một số khu dân cư nông thôn hệ thống cơ sở hạ tầng xây dựng còn thiếu đồng bộ, hệ thống giao thông đa số là đường đất khó đi lại trong mùa mưa, nước thải sinh hoạt chảy tràn lan gây ô nhiễm môi trường; nhà ở do nhân dân tự xây dựng bám dọc theo các trục đường lớn như quốc lộ 6, quốc lộ 12, ... có diện tích chiếm đất lớn và vi phạm hành lang giao thông. Đây là những vấn đề cần phải được tập trung giải quyết trong thời gian tới.

2.4. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

Trong 5 năm qua, kết cấu hạ tầng của huyện không ngừng được quan tâm đầu tư xây dựng. Các chương trình dự án trọng điểm được triển khai thực hiện đúng mục tiêu, kế hoạch. Cụ thể:

2.4.1. Giao thông

                                - Hệ thống giao thông của Tân Lạc khá đa dạng với nhiều cấp đường như quốc lộ, tỉnh lộ và hệ thống đường liên xã, liên thôn xóm. Theo báo cáo của phòng Công thương, trên địa bàn huyện có 14 km quốc lộ 12B, 25 km quốc lộ 6 và 3 tuyến tỉnh lộ (436, 440 và 450) chạy qua với tổng chiều dài 40,5 km. Đến năm 2015 toàn huyện có 11 tuyến đường huyện với tổng chiều dài 96,93 km, nền đường 5 m, mặt đường 3,5 m, tình trạng đường từ trung bình đến tốt; hai tuyến (Thị trấn – Tử Nê; Tử Nê – Gia Mô) với tổng chiều dài 10,4 km đang đề nghị chuyển thành đường huyện; đường trục xã, liên xã có tổng chiều dài 267,47 km, trong đó đã được cứng hóa 119,79 km (chiếm 44,8%); đường trục thôn xóm có tổng chiều dài 383,99 km, trong đó đã cứng hóa 143,87 km (chiếm 37,5%); đường ngõ xóm có tổng chiều dài 334,71 km, trong đó đã cứng hóa 105,81 km (chiếm 31,6%) và 244,91 km đường trục chính nội đồng, trong đó đã cứng hóa được 26,66 km (chiếm 10,9%).

                                - Hệ thống giao thông thủy khá phát triển do có một phần hồ sông Đà thuộc địa phận của huyện Tân Lạc trên địa bàn 2 xã Ngòi Hoa và Trung Hòa. Đường giao thông thủy này chạy qua 2 xã ra hồ Suối Hoa và ra hồ sông Đà. Các tuyến giao thông thủy này đóng vị trí rất quan trọng trong việc giao lưu với tỉnh Sơn La cũng như đi lại nội bộ của 2 xã ven sông Đà. Hệ thống đường thủy đi lại giữa các xã vùng lòng hồ và thành phố Hòa Bình đã được hình thành thuận tiện giao lưu trong vùng và với các địa phương lân cận.

                                - Huyện có một bến xe khách ở thị trấn Mường Khến, các phương tiện vận chuyển rất đa dạng và hầu hết thuộc khu vực ngoài quốc doanh. Có các tuyến vận chuyển hành khách nội tỉnh, liên tỉnh xuất bến trong ngày rất thuận lợi cho đi lại của nhân dân và lưu thông hàng hóa.

2.4.2. Thủy lợi

                                Trong những năm qua, hệ thống thủy lợi huyện Tân Lạc đã được quan tâm đầu tư xây dựng và tu bổ đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp trên địa bàn. Theo báo cáo của phòng nông nghiệp huyện, hiện nay trên địa bàn Tân Lạc đã xây dựng được 188 công trình thủy lợi các loại, đảm bảo tưới cho 2.984 ha cả năm (tưới vụ chiêm xuân là 1.261 ha, tưới vụ mùa là 1.723 ha); đồng thời cung cấp một phần nước sinh hoạt cho nhân dân trong huyện. Trong đó các công trình tưới tự chảy trực tiếp là 169 công trình (gồm 43 hồ chứa, 126 bai, đập), tưới cả năm được 2.680 ha (vụ chiêm xuân 1.126 ha, vụ mùa 1.554 ha); các công trình tưới bằng bơm trực tiếp (thủy luân) gồm 8 công trình.

                                Các hồ chứa có quy mô diện tích tưới cả năm lớn là hồ Úi Giang (xã Lỗ Sơn) tưới 29 ha; hồ Ỏm, hồ Quắn, hồ Suối Con (xã Gia Mô) tưới 78 ha; hồ Lũng Trong (xã ngọc Mỹ) tưới 26 ha; hồ Hông, hồ Be (xã Tuân Lộ) tưới 53 ha; hồ suối Hai (xã Thanh Hối) tưới 22 ha; hồ Tà (xã Do Nhân) tưới 20 ha; hồ Dồ (xã Nam Sơn) tưới 20 ha...

                    Các bai đập có quy mô tưới lớn có thể kể đến như bai Mương Trăng (xã Do Nhân) tưới 93 ha; bai Đừng, bai Niểng, bai Rên (xã Gia Mô) tưới 123 ha; bai Bày (xã Quy Hậu) tưới 46 ha; bai Rườm (xã Thanh Hối) tưới 45 ha; bai Quặng (xã Ngọc Mỹ) tưới 44 ha; bai Ấm (xã Mỹ Hòa) tưới 41 ha; bai Chiềng Úi (xã Lỗ Sơn) tưới 38 ha; bai mương Dâm (xã Quy Mỹ) tưới 35 ha; bai Rừng (xã Mãn Đức) tưới 33 ha...

2.4.3. Hệ thống lưới điện

                                Lưới điện huyện Tân Lạc nằm trong hệ thống điện của tỉnh Hòa Bình, được cung cấp nguồn từ hệ thống điện miền Bắc. Nhìn chung các trạm nguồn cung cấp điện đang ở tình trạng vận hành tốt.

                                Trong những năm qua, huyện Tân Lạc đã có nhiều cố gắng trong việc đưa điện về đến các xã vùng cao để phục vụ sản xuất và sinh hoạt của đồng bào các dân tộc. Hiện tại, tất cả các xã, thị trấn trong huyện đều đã có lưới điện quốc gia. Đến năm 2015, số hộ được dùng điện lưới quốc gia đạt 99,99%.

                                Do hệ thống lưới điện hạ thế được xây dựng qua các giai đoạn khác nhau nên nhiều nơi hệ thống đã xuống cấp. Một số nơi hệ thống lưới điện còn bị quá tải ảnh hưởng đến chất lượng dòng điện và mất an toàn lưới điện.

2.4.4. Hệ thống viễn thông

                                Mạng lưới bưu chính viễn thông những năm qua đã từng bước được hoàn thiện và hiện đại hoá với mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ, đặc biệt 5 năm qua, bưu chính có những bước phát triển nhanh. Bưu điện trung tâm đặt tại thị trấn Mường Khến và 100% xã có điểm bưu điện văn hóa xã. Hoạt động bưu chính đã phục vụ kịp thời công tác lãnh đạo, chỉ đạo địa phương thông suốt từ huyện đến cơ sở. Tính đến năm 2015, tất cả các xã, thị trấn trong toàn huyện đã phủ sóng di động, hiện nay trên địa bàn có 4.000 máy điện thoại cố định và hàng chục nghìn máy điện thoại di động đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của nhân dân.

                                Trạm chuyển phát sóng truyền hình của Đài truyền hình Việt Nam đặt tại thị trấn Mường Khến đã góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người dân trong huyện. Công tác thông tin tuyên truyền luôn bám sát được các nhiệm vụ trọng tâm của huyện đảm bảo cho nhiệm vụ kinh tế, chính trị của địa phương. Chất lượng nội dung, hình ảnh các tin bài phóng sự truyền thanh, truyền hình ngày càng đa dạng đáp ứng nhu cầu thông tin của người dân. Cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ công tác truyền thanh - truyền hình cũng không ngừng được đổi mới nâng cao. Đến năm 2015 có 99% số hộ dân được nghe đài, 96% hộ dân được xem truyền hình.

2.4.5. Cơ sở hạ tầng xã hội

a) Hệ thống trường học:

- Khối các đơn vị trường học thuộc huyện: Đến cuối năm 2015 toàn huyện có 74 trường học (gồm 26 trường, 02 cơ sở giáo dục mầm non, 01 trường mầm non tư thục; 23 trường tiểu học, 23 trường trung học cơ sở, 02 trường TH&THCS) và 24 trung tâm học tập cộng đồng. Với hệ thống trường học như trên, năm học 2014 – 2015 toàn huyện có 694 lớp học với 16.475 học sinh.

- Khối các trường PT DTNT THCS và THPT: Toàn huyện có 05 trường với tổng số 69 lớp với 2.282 học sinh.

Trong những năm qua huyện đã chỉ đạo thực hiện tốt công tác đầu tư xây dựng cơ bản, cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học được đảm bảo và từng bước hiện đại. Toàn huyện hiện có 80% phòng học kiên cố, 100% các trường có máy tính và nối mạng internet, nhiều trường có phòng học tin học.

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 03-NQ/HU ngày 05/8/2006 của Ban Thường vụ Huyện ủy về công tác xã hội hóa giáo dục. Coi đây là giải pháp chiến lược để phát triển sự nghiệp giáo dục, nhằm huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển giáo dục. Xã hội hóa giáo dục đã góp phần tăng thêm các điều kiện để phát triển giáo dục, đặc biệt là cơ sở vật chất. Các xã, thị trấn đã quan tâm đến công tác quy hoạch đất, dành quỹ đất để xây dựng trường học, nên phần lớn các trường có khuôn viên tương đối rộng rãi, đáp ứng được nhu cầu học tập và vui chơi của học sinh.

Theo báo cáo của phòng giáo dục và đào tạo huyện, tính đến hết năm 2015, toàn huyện có 19 trường đạt chuẩn Quốc gia (gồm 03 trường mần non, 09 trường tiểu học và 07 trường trung học cơ sở).

b) Hệ thống cơ sở y tế:

Mạng lưới y tế đã được củng cố từ huyện xuống cơ sở cả về cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ y tế; bệnh viện đa khoa huyện đã được cải tạo, nâng cấp, các trạm y tế xã từng bước được kiên cố hoá. Tính đến năm 2015 trên địa bàn huyện có 26 cơ sở y tế, gồm 1 bệnh viện đa khoa, 1 phòng khám đa khoa khu vực và 24 trạm y tế xã, thị trấn.

Trong những năm qua các chương trình mục tiêu y tế quốc gia và nâng cao sức khỏe cho nhân dân được triển khai thực hiện có hiệu quả; công tác dân số kế hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh; công tác y tế dự phòng đảm bảo chủ động trong việc phát hiện, kịp thời khống chế, dập tắt các dịch bệnh trên địa bàn huyện.

Năm 2015, trên địa bàn huyện có 94% dân số tham gia bảo hiểm y tế, trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm xuống còn 17‰; có 05 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.

c) Hệ thống cơ sở văn hoá, thể thao:

                                Theo báo cáo của phòng Văn hóa - Thông tin huyện, hiện nay trên địa bàn huyện đã xây dựng được một số công trình, văn hóa, thể thao như sau:

                                - Sân vận động trung tâm huyện;

                                - Sân vận động Phố Lồ xã Phong Phú;

                                - Nhà văn hóa huyện, 145 nhà văn hóa xóm, bản.

                                - Một số khu di tích, danh thắng, như miếu thờ xóm Lũy, Hang Muối, động Mường Chiềng, động Hoa Tiên, hang Bụt, hang Bưng...

                                - Ngoài ra đến nay toàn huyện có 86 câu lạc bộ thể thao, 4.889 hộ đạt chuẩn gia đình thể thao, 25.172 người thường xuyên tham gia luyện tập thể dục, thể thao.

3. Phân tích, đánh giá bổ sung về biến đổi khí hậu tác động đến việc sử dụng đất

Biến đổi khí hậu đang diễn ra ở quy mô toàn cầu, khu vực và ở Việt Nam. Tác động của biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ làm thay đổi toàn diện, sâu sắc quá trình phát triển và an ninh toàn cầu như lương thực, nước, năng lượng và các vấn đề xã hội. Riêng ở Việt Nam do biến đổi khí hậu nên thiên tai như: Bão, lũ, sạt lở, lũ quét, sụt lún đất… trong mấy năm gần đây diễn biến rất bất thường và khắc nghiệt, tình hình thiên tai xảy ra ngày càng nghiêm trọng gây nhiều tổn thất về đất đai, tài sản thậm chí cả tính mạng của người dân.

                Tỉnh Hòa Bình nói chung và huyện Tân Lạc nói riêng đã và đang chịu tác động mạnh mẽ của vòng xoáy biến đổi khí hậu. Huyện Tân Lạc là huyện miền núi có địa hình phức tạp, chia cắt mạnh, đồi núi cao, độ dốc lớn, hệ thống sông suối dầy đặc và dốc, kết cấu địa tầng nhiều khu vực yếu, thảm thực vật che phủ suy giảm nên hiện tượng thiên tai như sạt lở đất, lũ quét, lũ ống, gió lốc kèm theo mưa đá ở các lưu vực nhỏ ngày càng gia tăng, tần suất xuất hiện và sức tàn phá gây tổn thất nghiêm trọng về người, tài sản và môi trường sinh thái. Thiệt hại do thiên tai năm 2015 gây ra cho huyện Tân Lạc  ước tính trên 25 tỷ đồng: Thiệt hại đáng kể và thường xảy ra do các trận giông, lốc đầu mùa mưa bão. Thống kế trong khoảng các tháng 4 - 5/2015, toàn huyện có 202 nhà dân bị hư hỏng, bao gồm cả số phòng học thuộc trường học trên địa bàn 2 xã Phú Cường và Lũng Vân do đá lở, đá lăn. Trên 156 ha cây hoa màu, hàng trăm cây ăn quả, cây lâm nghiệp bị gãy đổ. Sang đến tháng 9, nhiều công trình hạ tầng giao thông, thủy lợi phục vụ sản xuất, dân sinh tiếp tục bị thiên tai phá hủy, như sạt lở ngầm Bò Lòn, ngầm Hói Đai - xã Ngọc Mỹ; làm hư hỏng nặng tuyến đường vùng cao đi xóm Dồ, xóm Bương - xã Nam Sơn; bai Rộc xóm Mu, 4 bai nhỏ xóm Cóc 1, Cóc 2 - xã Ngọc Mỹ; tuyến mương tưới xóm Bin - xã Tử Nê cũng bị hư hỏng...  

Một số xã vùng cao trên địa bàn huyện gồm: Bắc Sơn, Phú Vinh, Gia Mô và Do Nhân năm 2015 tiếp tục hứng chịu hậu quả thiên tai với gần 20 nhà dân bị tốc mái và đổ sập. Một số xã trong phạm vi bị ảnh hưởng về cây cối, hoa màu do mưa, lốc, thiệt hại ước tính hàng trăm triệu đồng. Vì vậy, quy hoạch sử dụng đất cần xem xét đến những tác động do biến đổi khí hậu gây ra:

 - Để giảm tác động của hiện tượng sa mạc hóa, cần chú trọng đến công tác thủy lợi, điều hành và vận hành các hồ chứa, chống hạn vào mùa khô, điều hòa nước vào mùa mưa. Các hiện tượng khí hậu cực đoan đã và đang ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất cây lương thực. Do vậy để đảm bảo an ninh lương thực, bù lại diện tích đất lúa chuyển sang các mục đích khác; cần áp dụng các biện pháp bố trí cơ cấu cây trồng, mùa vụ hợp lý kết hợp với các biện pháp kỹ thuật tăng năng suất.

- Quy hoạch sử dụng đất cần xem xét đến lịch sử thiên tai, đặc biệt bố trí ổn định dân cư; di chuyển các hộ có nguy cơ sạt lở đất, bố trí nơi ở mới cần xem xét kỹ về vấn đề địa hình, đất đai tránh các nguy cơ, thiệt hại do thiên tai gây ra.

- Ngoài ra, quy hoạch cần đảm bảo bảo vệ diện tích đất rừng hiện có, khoanh nuôi và trồng rừng trên diện đất đồi chưa sử dụng, góp phần điều hòa khí hậu, môi trường, chống sói mòn, lũ ống lũ quét,…để thích ứng và giảm thiểu tác động trực tiếp và gián tiếp của biến đổi khí hậu. 

4. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường

4.1. Những thuận lợi, lợi thế

                                - Huyện Tân Lạc ở vị trí cửa ngõ của vùng Tây Bắc, nằm trên tuyến du lịch Tây Bắc: Hà Nội - Tân Lạc - Sơn La - Điện Biên Phủ; có quốc lộ số 6 và quốc lộ 12B đi qua nên Tân Lạc có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế, giao lưu hàng hoá và phát triển du lịch.

- Quỹ đất nông lâm nghiệp lớn, nếu có các giải pháp hợp lý tăng năng suất cây trồng, vật nuôi sẽ tạo điều kiện chuyển đổi một phần diện tích cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội khác mà không ảnh hưởng tới an ninh lương thực, thực phẩm.

- Điều kiện tự nhiên (địa hình, khí hậu, đất đai,...) đã tạo ra các vùng lãnh thổ có các điều kiện phát triển kinh tế khác nhau, trên mỗi vùng phù hợp với một số loại cây trồng, vật nuôi nhất định, cho phép phát triển một nền sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản đa dạng.

- Có nguồn lao động dồi dào, giàu kinh nghiệm, có trình độ thâm canh, ý thức hướng tới sản xuất hàng hoá..., người dân cần cù chịu khó, ham học hỏi, tìm tòi, sáng tạo, đoàn kết; đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học nhiệt tình, năng động, có trách nhiệm, biết vận dụng sáng tạo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước trong phát triển kinh tế xã hội của huyện.

                                - Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đã được đầu tư tăng cường đáng kể, nhất là ở các xã vùng sâu, đặc biệt khó khăn, góp phần nâng cao đời sống của cộng đồng các dân tộc trong huyện. Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được thành tựu đáng kể, người nghèo đã từng bước được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và có điều kiện để phát triển kinh tế gia đình.

4.2. Những khó khăn, hạn chế

                                - Là huyện miền núi có trên 85% đất đai là đất đồi núi, chia cắt mạnh, độ dốc lớn, nhất là ở vùng Cao và vùng Thượng, nên đã gây nhiều khó khăn cho việc mở rộng mạng lưới giao thông, thủy lợi và xây dựng các vùng sản xuất hàng hóa tập trung có quy mô nhất định, đã làm giảm hiệu quả kinh tế của quá trình sản xuất và lưu thông hàng hóa.

                                - Các nguồn tài nguyên trên địa bàn huyện có trữ lượng không cao và xu hướng ngày càng cạn dần. Những năm qua việc khai thác sử dụng chưa hợp lý, không đảm bảo quy trình kỹ thuật, tổ chức và quản lý chưa thật chặt chẽ, thêm vào đó việc chuyển đổi ồ ạt diện tích đất rừng sang trồng cây ăn quả dẫn đến tài nguyên rừng ngày càng cạn kiệt.

- Hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội, đặc biệt là các công trình văn hóa - thể thao còn thiếu nhiều, tuy nhiên nguồn vốn để đầu tư xây dựng còn nhiều khó khăn, do đó trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm cần ưu tiên bố trí cho các hạng mục này.

- Nguồn vốn tích lũy từ nền kinh tế còn nhiều hạn chế trong khi nhu cầu về vốn đầu tư thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm rất lớn .

III. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ BỔ SUNG TÌNH HÌNH QUẢN LÝ, SỬ DỤNG ĐẤT ĐẾN THỜI ĐIỂM ĐIỀU CHỈNH

1. Phân tích, đánh giá bổ sung tình hình thực hiện một số nội dung quản lý nhà nước về đất đai

Trong những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền ở Tân Lạc đã quán triệt chủ trương, chính sách, pháp luật về đất đai, vận dụng vào địa phương một cách hợp lý; thường xuyên tuyên truyền pháp luật để người sử dụng đất nắm được pháp luật do đó đã hạn chế việc vi phạm pháp luật của người sử dụng đất, sử dụng đất tiết kiệm, đúng quy hoạch, có hiệu quả; thực hiện tốt việc giải phóng mặt bằng, đền bù đất đai, tổ chức tái định cư đáp ứng được nguyện vọng của người dân. Do đó công tác quản lý đất đai của huyện đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng. Dưới đây là tình hình cụ thể về một số lĩnh vực quản lý đất đai của huyện trong thời gian qua.

1.1. Công tác đo đạc, lập bản đồ địa chính

Công tác đo đạc, thành lập bản đồ địa chính đối với các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện được thực hiện theo Luật Đất đai năm 2013, toàn bộ các xã, thị trấn đã được đo đạc địa chính chính quy và thành lập các tờ bản đồ tỷ lệ khác nhau, đã thực hiện kê khai đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện.

Hiện nay, công tác đo đạc địa chính theo quy định mới đã được triển khai, áp dụng tại địa phương, đã trích đo các thửa đất có biến động, lập bản mô tả, đo vẽ ranh giới các thửa đất theo quy định.

Thực hiện cấp GCN cho các hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trên địa bàn huyện Tân Lạc theo đúng trình tự, thủ tục quy định hiện hành. Cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính thường xuyên.

Công tác quản lý phôi chứng nhận quyền sử dụng đất được theo dõi tổng hợp, báo cáo hàng năm.

1.2. Công tác giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất

Việc triển khai công tác giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn của huyện trong những năm qua được cấp ủy, chính quyền các cấp chỉ đạo sát sao.

Quá trình thực hiện đã chấp hành theo Luật Đất đai năm 2013, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013; Nghị định số 45/NĐ-CP về thu tiền sử dụng đất, Thông tư 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; Văn bản cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của Chính phủ, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được duyệt.

Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại như các hộ gia đình, cá nhân được giao đất, cho thuê đất, đấu giá quyền sử dụng đất và chuyển mục đích sử dụng đất còn chậm trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính dẫn đến công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận sau giao đất còn chậm.

Công tác, giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất trong năm 2015 được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2: Công tác giao đất, cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất năm 2015

STT

Chỉ tiêu

Thẩm quyền cấp tỉnh

Thẩm quyền cấp huyện

Số tổ chức

Diện tích (ha)

Số hộ, cá nhân

Diện tích (ha)

I

Giao đất

 18

31,88 

250

2,93

-

Đất nông nghiệp

 

 

80

0,42

 

  + Thông qua đấu giá

 

 

 

 

 

  + Không qua đấu giá

 

 

80

0, 42

-

Đất phi nông nghiệp

18

31,88

170

2,51

 

  + Thông qua đấu giá

 

 

 

0,49

 

  + Không qua đấu giá

18

31,88

170

2,02

II

Cho thuê đất

1

0,18

 

 

-

Đất phi nông nghiệp

 

 

 

 

 

  + Thông qua đấu giá

 

 

 

 

 

  + Không qua đấu giá

1

0,18

 

 

III

Cho phép chuyển mục đích

1

0,49

65

34,2

-

Chuyển đất rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất sang sử dụng vào mục đích khác trong nhóm đất nông nghiệp;

 

 

65

34,2

-

Chuyển đất phi nông nghiệp không phải là đất ở sang đất ở;

1

0,49

 

 

(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tân Lạc, 2015)

1.3. Công tác lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Thực hiện Luật đất đai năm 2013, các Nghị định của Chính phủ và Thông tư của bộ Tài nguyên và Môi trường về công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Trong những năm qua UBND huyện Tân lạc đã chỉ đạo các ngành chức năng và UBND các xã, thị trấn tiến hành làm tốt công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương.

- Huyện Tân Lạc đã triển khai thực hiện việc lập Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) được Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình phê duyệt tại Quyết định số 2779/QĐ-UBND ngày 15 tháng 11 năm 2013;

- Trên cơ sở Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được phê duyệt, hàng năm huyện Tân Lạc đều triển khai lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm. Kế hoạch sử dụng đất năm 2015 đã được lập và phê duyệt tại quyết định số 94/QĐ-UBND ngày 22 tháng 01 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình.

- Hiện nay đang tiến hành triển khai xây dựng phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.

Nhìn chung công tác điều tra, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai của huyện trong những năm qua đã được UBND huyện quan tâm chỉ đạo thực hiện và đạt kết quả khá tốt. Kết quả công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã giúp cho UBND các cấp đánh giá, quản lý, sử dụng hiệu quả hơn nguồn tài nguyên đất đai, làm cơ sở hoạch định phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi rộng cũng như phục vụ cho quá trình giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cụ thể ở mỗi địa phương, cho từng đối tượng, từng chủ sử dụng đất.

1.4. Công tác thống kê, kiểm kê đất đai

Thực hiện Chỉ thị số 21/CT-TTg ngày 01 tháng 8 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 và các văn bản về thống kê đất đai định kỳ hàng năm của Bộ Tài nguyên & Môi trường, Sở Tài nguyên & Môi trường Hòa Bình. Trong những năm qua, UBND huyện Tân Lạc đã nghiêm túc chỉ đạo, tổ chức thực hiện theo quy định, nên đã giúp lãnh đạo các cấp nắm bắt được thực trạng sử dụng đất của cấp mình và sự biến động về sử dụng đất hàng năm để có kế hoạch đưa vào khai thác sử dụng đất đai có hiệu quả và tăng cường công tác quản lý đất đai trên địa bàn.

                Để thực hiện có hiệu quả công tác kiểm kê, thống kê đất đai, UBND huyện đã có công văn chỉ đạo phòng Tài nguyên & Môi trường, các xã, thị trấn trong huyện thực hiện nghiêm túc các văn bản của cấp trên về kiểm kê, thống kê đất đai. Do đó nhìn chung các xã, thị trấn và huyện thực hiện đúng tiến độ, trình sở Tài nguyên & Môi trường đúng thời gian.

1.5. Công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất

Trong những năm qua UBND huyện đã chỉ đạo, hướng dẫn, tháo gỡ vướng mắc trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; đặc biệt là công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với các dự án trọng điểm. Tại các xã, thị trấn công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cũng luôn được quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện công khai, dân chủ; đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Đặc biệt là từ khi Luật Đất đai năm 2013, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân có đất bị thu hồi được đảm bảo, đã góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án góp phần ổn định kinh tế, xã hội.

Kết quả thực hiện về việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi năm 2015 được thể hiện theo bảng sau:

Bảng 3: Kết quả thực hiện bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất năm 2015

STT

Danh mục

Đơn vị

Số lượng

I

Diện tích đất bị thu hồi

ha

4,02

1

Đất nông nghiệp

ha

3,22

-

Đất trồng lúa

ha

1,23

-

Đất trồng cây hàng năm khác

ha

1,12

-

Đất trồng cây lâu năm khác

ha

0,08

-

Đất rừng phòng hộ

ha

 

-

Đất rừng sản xuất

ha

0,79

-

Đất rừng đặc dụng

ha

 

2

Đất chưa sử dụng, giao thông, thủy lợi

ha

0,8

II

Đối tượng bị thu hồi

 

 

1

Tổ chức

 

 

-

Số tổ chức

Tổ chức

2

-

Diện tích

ha

1,12

2

Hộ, cá nhân

 

 

-

Số hộ, cá nhân

Hộ, cá nhân

231

-

Diện tích

ha

3,22

III

Bồi thường

 

 

1

Số đối tượng

Đối tượng

231

2

Số tiền

Triệu đồng

            3.487,98

IV

Hỗ trợ

 

 

1

Số đối tượng

Đối tượng

231

2

Số tiền

Triệu đồng

           3.440,72

(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Tân Lạc, 2015)

Việc thực hiện các quy định của pháp luật đất đai về thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện theo Luật Đất đai năm 2013, Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013; Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Thông tư 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Thông tư 30/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định về hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất; Văn bản cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của Chính phủ, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh về thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được duyệt, văn bản đồng ý chủ trương, hoặc giấy chứng nhận đầu tư của UBND tỉnh, UBND huyện sẽ tiến hành thông báo thu hồi đất và các công việc theo quy định.

Đối với nhóm các dự án thuộc vốn ngân sách nhà nước và doanh nghiệp sử dụng vốn ngân sách nhà nước để triển khai bồi thường, giải phóng mặt bằng sử dụng vào mục đích lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh khá thuận lợi và gặp ít trở ngại từ phía người sử dụng đất. Song bên cạnh đó nguồn kinh phí đầu tư cho thực hiện các dự án từ nguồn ngân sách chưa được đáp ứng đầy đủ, kịp thời theo phân kỳ dự án được phê duyệt nên khi các dự án có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ không có đủ nguồn kinh phí để chi trả tiền bồi thường. Một số dự án đã được phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ nhiều công trình đã thi công xong, tuy nhiên phần chi trả cho dân hiện nay vẫn chưa có nguồn kinh phí để chi trả.

1.6. Công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân trong lĩnh vực đất đai

- Thực hiện theo Luật Đất đai năm 2013 (tính từ 01/7/2014 đến nay) UBND huyện đã chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường thành lập đoàn kiểm tra, tiến hành thanh tra, kiểm tra đối với các trường hợp sử dụng đất trên địa bàn huyện. Đã tiến hành kiểm tra 24 xã, thị trấn.

- Công tác giải quyết tranh chấp đất đai, khiếu nại về đất đai thực sự đã được quan tâm chỉ đạo, thực hiện thường xuyên và theo luật định nên việc tiếp xúc và giải quyết các vấn đề với người dân được thuận tiện và hiệu quả hơn.

- Xây dựng, duy trì hệ thống theo dõi, đánh giá tình hình quản lý, sử dụng đất đai theo quy định tại Điều 200 của Luật Đất đai năm 2013.

- Kết quả các cuộc kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về đất đai được công khai, minh bạch tại địa phương và được xử lý đúng theo quy định.

- Trong năm 2015 huyện đã thực hiện thanh tra 16 tổ chức sử dụng đất và kiểm tra 481 hộ, cá nhân sự dụng đất.

2. Phân tích, đánh giá hiện trạng và biến động sử dụng đất

2.1. Hiện trạng sử dụng các loại đất

                Theo số liệu thống kê đất ngày 01/01/2016, hiện trạng sử dụng quỹ đất đai của huyện được chia thành 3 nhóm sử dụng đất chính như sau:

                Diện tích tự nhiên (DTTN): 53.089,09 ha - 100%. Trong đó:

                - Đất nông nghiệp: 46.661,33 ha, chiếm 87,89% DTTN;

                - Đất phi nông nghiệp: 5.371,71 ha, chiếm 10,12% DTTN;

                - Đất chưa sử dụng: 1.056,06 ha, chiếm 1,99% DTTN.

                Dưới đây là thực trạng sử dụng của từng loại đất trong các nhóm đất trên:

                2.1.1. Đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp năm 2015 của toàn huyện hiện có 46.661,33 ha, chiếm 87,89% diện tích tự nhiên. Trong đó đất trồng lúa 4.431,17 ha (đất chuyên trồng lúa nước 3.192,35ha); đất trồng cây hàng năm khác 3.656,26 ha; đất trồng cây lâu năm 2.875,61 ha; đất rừng phòng hộ 15.282,82 ha, đất rừng đặc dụng 5.476,82 ha, đất rừng sản xuất 14.758,00 ha; đất nuôi trồng thủy sản 163,14 ha và đất nông nghiệp khác 17,52 ha. Cụ thể chỉ tiêu sử dụng từng loại đất trong nhóm đất nông nghiệp như sau:

a) Đất trồng lúa: Diện tích đất trồng lúa của huyện hiện có 4.431,17 ha, chiếm 9,5% diện tích đất nông nghiệp; bình quân trên đầu người của toàn huyện có 565,74 m2 đất lúa (đủ điều kiện để sản xuất đảm bảo an ninh lương thực). Các xã có diện tích đất lúa nhiều là Phú Cường (441,08 ha), Ngọc Mỹ (344,62 ha), Thanh Hối (313,95 ha), Phú Vinh (279,55 ha), Địch Giáo (272,85 ha), Đông Lai (256,72 ha), Mãn Đức (235,51 ha), Mỹ Hòa (225,57 ha). Các xã có diện tích lúa ít là Ngòi Hoa (13,43 ha), Ngổ Luông (59,55 ha) và Bắc Sơn (67,18 ha).

b) Đất trồng cây hàng năm khác: Diện tích đất trồng cây hàng năm khác của huyện hiện có 3.653,26 ha, chiếm 7,84% diện tích đất nông nghiệp. Các xã có diện tích đất trồng cây hàng năm khác nhiều gồm: Phú Vinh (716,97 ha), Phú Cường (462,56 ha), Mỹ Hòa (304,98 ha), Bắc Sơn (265,35 ha), Nam Sơn (252,69 ha) và Ngổ Luông (244,43 ha).

c) Đất trồng cây lâu năm: Diện tích đất trồng cây lâu năm của huyện hiện có 2.875,61 ha, chiếm 6,16% diện tích đất nông nghiệp. Các xã có diện tích cây lâu năm nhiều gồm: Quy Hậu (364,61 ha), Mỹ Hòa (283,44 ha), Phú Vinh (240,28 ha) và Đông Lai (196,03 ha).

d) Đất rừng phòng hộ: Diện tích đất rừng phòng hộ của huyện hiện có 15.282,82 ha, chiếm 32,75% diện tích đất nông nghiệp. Các xã có diện tích rừng phòng hộ lớn là: Quyết Chiến (2.090,74 ha), Trung Hòa (1.811,27 ha), Mỹ Hòa (1.529,31 ha), Phú Vinh (1.289,15 ha), Phú Cường (1.150,72 ha) và Ngòi Hoa (1.085,69 ha).

đ) Đất rừng đặc dụng: Diện tích đất rừng đặc dụng của huyện hiện có  5.476,82 ha, chiếm 11,74% diện tích đất nông nghiệp (tập trung chủ yếu ở khu bảo tồn thiên nhiên thuộc xã Ngổ Luông 3.172,37 ha, Nam Sơn 1.406,85 ha và xã Bắc Sơn 897,60 ha).

e) Đất rừng sản xuất: Diện tích đất rừng sản xuất của huyện hiện có 14.758,00 ha, chiếm 31,63% diện tích đất nông nghiệp. Các xã có diện tích đất rừng sản xuất lớn là: Ngọc Mỹ (1.519,45 ha), Thanh Hối (1.184,49 ha), Đông Lai (1.114,95 ha), Phú Cường (1.103,56 ha), Trung Hòa (1.031,31 ha) và Lũng Vân (1.016,88 ha).

f) Đất nuôi trồng thủy sản: Diện tích đất nuôi trồng thủy sản của huyện hiện có 163,14 ha, chiếm 0,35% diện tích đất nông nghiệp. Các xã có diện tích đất nuôi trồng thủy sản nhiều là: Phú Cường (24,08 ha), Gia Mô (19,05 ha), Thanh Hối (11,55 ha) và Quy Hậu (11,38 ha).

g) Đất nông nghiệp khác: Diện tích đất nông nghiệp khác của huyện hiện có 17,52 ha, chiếm 0,04% diện tích đất nông nghiệp. Diện tích đất này tập trung toàn bộ ở xã Quyết Chiến.

Bảng 4:   Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2015

Huyện Tân Lạc – tỉnh Hòa Bình

STT

Chỉ tiêu sử dụng đất

Tổng diện tích (ha)

Cơ cấu (%)

1

Đất nông nghiệp

NNP

46.661,33

100,00

 1.1

Đất trồng lúa

LUA

4.431,17

9,50

 

 Trong đó: Đất chuyên trồng lúa nước

LUC

3.192,35

6,84

 1.2

Đất trồng cây hàng năm khác

HNK

3.656,26

7,84

 1.3

Đất trồng cây lâu năm

CLN

2.875,61

6,16

 1.4

Đất rừng phòng hộ

RPH

15.282,82

32,75

 1.5

Đất rừng đặc dụng

RDD

5.476,82

11,74

 1.6

Đất rừng sản xuất

RSX

14.758,00

31,63

 1.7

Đất nuôi trồng thủy sản

NTS

163,14

0,35

 1.8

Đất làm muối

LMU

0,00

0,00

 1.9

Đất nông nghiệp khác

NKH

17,52

0,04

 (Nguồn: Số liệu TKĐĐ 01.01.2016 huyện Tân Lạc)

2.1.2. Đất phi nông nghiệp

Tổng diện tích đất phi nông nghiệp năm 2015 của huyện hiện có 5.371,71 ha, chiếm 10,12% tổng diện tích tự nhiên. Dưới đây là hiện trạng chỉ tiêu sử dụng từng loại đất phi nông nghiệp cụ thể:

                a) Đất quốc phòng: Diện tích hiện có 311,13 ha, chiếm 5,79% diện tích đất phi nông nghiệp. Tập trung ở các xã Mỹ Hòa (143,40 ha), Quy Hậu (44,1 ha), Phong Phú (40,55 ha), Trung Hòa (37,86 ha), thị trấn Mường Khến (27,7 ha), Ngòi Hoa (15,06 ha).

                b) Đất an ninh: Diện tích hiện có 2,59 ha, chiếm 0,05% diện tích đất phi nông nghiệp. Diện tích đất này tập trung chủ yếu ở Thị trấn Mường Khến (1,93 ha) và xã Quy Hậu (0,66 ha).

                c) Đất thương mại – dịch vụ: Diện tích hiện có 7,02 ha, chiếm 0,13% diện tích đất phi nông nghiệp. Diện tích đất này tập trung chủ yếu ở thị trấn Mường Khến (1,71 ha), các xã Thanh Hối (1,6 ha), Tử Nê (0,9 ha), Đông Lai (0,85 ha), Quy Hậu (0,76 ha).

                d) Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp: Diện tích hiện có 17,32 ha, chiếm 0,32% diện tích đất phi nông nghiệp. Diện tích đất này tập trung chủ yếu ở các xã Phong Phú (10,04 ha), Đông Lai (4,85 ha), Thanh Hối (1,06 ha).

                đ) Đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản: Diện tích hiện có 4,09 ha, chiếm 0,08% diện tích đất phi nông nghiệp. Diện tích đất này tập trung toàn bộ ở xã Lỗ Sơn.

                e) Đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã: Diện tích hiện có 2.831,18 ha, chiếm 52,71% diện tích đất phi nông nghiệp. Diện tích đất này tập trung chủ yếu ở các xã Ngòi Hoa (1.241,49 ha), Trung Hòa (189,90 ha), Phú Cường (163,17 ha), Phong Phú (115,53 ha), Mỹ Hòa (103,21 ha), Đông Lai (101,43 ha), Mãn Đức (98,91 ha). Trong đất phát triển hạ tầng có 826,83 ha đất giao thông; 530,53 ha đất thủy lợi; 517,00 ha; 1.382,51 ha đất công trình năng lượng ; 0,52 ha đất bưu chính viễn thông và 144,32 ha đất xây dựng các công trình phúc lợi xã hội (giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao...).

                f) Đất có di tích lịch sử - văn hóa: Diện tích hiện có 0,06 ha, tập trung toàn bộ ở xã Do Nhân.

                g) Đất bãi thải, xử lý chất thải: Diện tích hiện có 4,46 ha, chiếm 0,12% diện tích đất phi nông nghiệp. Diện tích đất này tập trung chủ yếu ở thị trấn Mường Khến 2,17 ha, xã Tử Nê (1,47 ha), xã Phong Phú (1,26 ha).

                h) Đất ở nông thôn: Diện tích hiện có 1.217,48 ha, chiếm 22,66% diện tích đất phi nông nghiệp. Các xã có diện tích đất ở lớn Ngọc Mỹ (248,37 ha), Thanh Hối (209,21 ha), Phong Phú (128,46 ha), Đông Lai (84,87 ha).

                i) Đất ở đô thị: Diện tích hiện có 24,52 ha, chiếm 0,46% diện tích đất phi nông nghiệp, diện tích này nằm toàn bộ ở Thị trấn Mường Khến.

                k) Đất xây dựng trụ sở cơ quan: Diện tích hiện có 13,19 ha, chiếm 0,25% diện tích đất phi nông nghiệp. Diện tích đất này tập trung chủ yếu ở thị trấn Mường Khến (3,63 ha), xã Tử Nê (1,48 ha) và Địch Giáo (0,95 ha).

                l) Đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp: Diện tích đất hiện có 0,46 ha, tập trung toàn bộ ở thị trấn Mường Khến.

                m) Đất cơ sở tôn giáo: Diện tích hiện có 0,19 ha, tập trung chủ yếu ở xã Lỗ Sơn 0,18 ha và xã Quyết Chiến 0,01 ha.

                n) Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng: Diện tích hiện có 339,36 ha, chiếm 6,32% diện tích đất phi nông nghiệp. Diện tích đất này tập trung chủ yếu ở các xã Đông Lai (36,75 ha), Trung Hòa (29,46 ha), Lỗ Sơn (24,76 ha), Mỹ Hòa (24,66 ha), Phú Vinh (20,55 ha).

                o) Đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm: Diện tích hiện có 17,52 ha, chiếm 0,33% diện tích đất phi nông nghiệp. Diện tích đất này tập trung chủ yếu ở xã Mãn Đức (13,85 ha) và xã Quy Hậu (3,67 ha).

                p) Đất sinh hoạt cộng đồng: Diện tích hiện có 30,58 ha, chiếm 0,57% diện tích đất phi nông nghiệp. Diện tích đất này được phân bổ ở các xã, trong đó tập trung chủ yếu ở xã Phú Cường (6,37 ha), Địch Giáo (2,80 ha) và xã Phú Vinh (2,59 ha).

                q) Đất cơ sở tín ngưỡng: Diện tích hiện có 4,50 ha, chiếm 0,08% diện tích đất phi nông nghiệp. Diện tích đất này tập trung chủ yếu ở xã Phú Vinh (2,40 ha), Phong Phú (1,22 ha).

                r) Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối: Diện tích hiện có 515,52 ha, chiếm 9,60% diện tích đất phi nông nghiệp. Diện tích đất này tập trung chủ yếu ở các xã Ngọc Mỹ (84,98 ha), Lỗ Sơn (47,54 ha), Gia Mô (39,04 ha), Thanh Hối (39,11 ha), Đông Lai (26,66 ha), Mãn Đức (26,48 ha), Do Nhân (26,27 ha) và Tử Nê (26,16 ha).

                s) Đất có mặt nước chuyên dùng: Diện tích đất hiện có 28,31 ha, chiếm 0,53% diện tích đất phi nông nghiệp. Diện tích đất này tập trung chủ yếu ở xã Ngòi Hoa (16,94 ha), Tử Nê (3,91 ha), Mãn Đức (2,97 ha).

Bảng 5: Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2015

Huyện Tân Lạc – tỉnh Hòa Bình

STT

Chỉ tiêu sử dụng đất

Tổng diện tích

Cơ cấu
(%)

 
 

2

Đất phi nông nghiệp

PNN

5.371,71

100

 

2.1

Đất quốc phòng

CQP

311,13

5,79

 

2.2

Đất an ninh

CAN

2,59

0,05

 

2.3

Đất khu công nghiệp

SKK

-

-

 

2.4

Đất khu chế xuất

SKT

-

-

 

2.5

Đất cụm công nghiệp

SKN

-

-

 

2.6

Đất thương mại, dịch vụ

TMD

7,02

0,13

 

2.7

Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp

SKC

17,32

0,32

 

2.8

Đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản

SKS

4,09

0,08

 

2.9

Đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã

DHT

2.831,18

52,71

 

2.10

Đất có di tích lịch sử - văn hóa

DDT

0,06

0,00

 

2.11

Đất danh lam thắng cảnh

DDL

-

-

 

2.12

Đất bãi thải, xử lý chất thải

DRA

6,46

0,12

 

2.13

Đất ở tại nông thôn

ONT

1.217,48

22,66

 

2.14

Đất ở tại đô thị

ODT

24,52

0,46

 

2.15

Đất xây dựng trụ sở cơ quan

TSC

13,19

0,25

 

2.16

Đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp

DTS

0,46

0,01

 

2.17

Đất xây dựng cơ sở ngoại giao

DNG

-

-

 

2.18

Đất cơ sở tôn giáo

TON

0,19

0,00

 

2.19

Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng

NTD

339,36

6,32

 

2.20

Đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm

SKX

17,52

0,33

 

2.21

Đất sinh hoạt cộng đồng

DSH

30,58

0,57

 

2.22

Đất khu vui chơi, giải trí công cộng

DKV

-

-

 

2.23

Đất cơ sở tín ngưỡng

TIN

4,50

0,08

 

2.24

Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối

SON

515,75

9,60

 

2.25

Đất có mặt nước chuyên dùng

MNC

28,31

0,53

 

2.26

Đất phi nông nghiệp khác

PNK

-

-

 

 (Nguồn: Số liệu TKĐĐ 01.01.2016 huyện Tân Lạc)

2.1.3. Đất chưa sử dụng

                Đến năm 2015, diện tích đất chưa sử dụng toàn huyện còn 1.056,55 ha, chiếm 19,66% diện tích tự nhiên. Trong đó:

                - Đất bằng chưa sử dụng: Diện tích hiện có 487,55 ha, chiếm 46,17% diện tích đất chưa sử dụng. Diện tích đất này tập trung nhiều tại các xã Phú Cường (142,61 ha), Quyết Chiến (47,36 ha), Phú Vinh (43,16 ha), Do Nhân (29,75 ha), Ngòi Hoa (26,99 ha), Thanh Hối (26,5 ha).

                - Đất đồi núi chưa sử dụng: Diện tích hiện có 476,19 ha, chiếm 45,09% diện tích đất chưa sử dụng. Diện tích đất này tập trung nhiều tại các xã Ngọc Mỹ (71,31 ha), Trung Hòa (66,42 ha), Bắc Sơn (66,19 ha), Quy Hậu (41,48 ha), Thanh Hối (37,79 ha), Quy Mỹ (35,88 ha).

                - Núi đá không có rừng cây: Diện tích hiện có 92,31 ha, chiếm 8,74% diện tích đất chưa sử dụng. Diện tích đất này tập trung nhiều tại thị trấn Mường Khến (28,46 ha), xã Quy Hậu (15,77 ha), Đông Lai (8,94 ha), Trung Hòa (8,26 ha).  

Bảng 6: Hiện trạng đất chưa sử dụng năm 2015

Huyện Tân Lạc – tỉnh Hòa Bình

STT

Chỉ tiêu sử dụng đất

Tổng diện tích

Cơ cấu
(%)

 
 

3

Đất chưa sử dụng

CSD

1.056,05

 100,00

 

3.1

Đất bằng chưa sử dụng

BCS

487,55

46,17

 

3.2

Đất đồi núi chưa sử dụng

DCS

476,19

45,09

 

3.3

Núi đá không có rừng cây

NCS

92,31

8,74

 

(Nguồn: Số liệu TKĐĐ 01.01.2016 huyện Tân Lạc)

2.2. Biến động sử dụng đất

Phân tích sự biến động sử dụng đất từ năm 2010 đến 2015 cho thấy tình hình biến động sử dụng đất đai của huyện trong 5 năm qua như sau.

 

Bảng 7: Tình hình biến động sử dụng đất giai đoạn 2010 - 2015

Huyện Tân Lạc – tỉnh Hòa Bình

Đơn vị tính: ha

TT

Mục đích sử dụng đất

Năm 2010

Năm 2015

Tăng (+); giảm (-)

Tổng cộng

Tăng, giảm do số liệu kiểm kê, lập bản đồ  HTSDĐ năm 2014

Tăng, giảm THGĐ 2011 - 2015

 

TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN

 

53.204,75

53.089,09

-115,66

-115,66

 

1

Đất nông nghiệp

NNP

44.808,55

46.661,33

1.852,78

1.927,23

-74,45

1.1

Đất trồng lúa

LUA

4.400,61

4.431,17

30,56

68,70

-38,14

 

 Trong đó: Đất chuyên trồng lúa nước

LUC

3.165,20

3.192,35

27,15

56,28

-29,13

1.2

Đất trồng cây hàng năm khác

HNK

3.354,49

3.656,26

301,77

293,22

8,55

1.3

Đất trồng cây lâu năm

CLN

876,52

2.875,61

1.999,09

2.009,74

-10,65

1.4

Đất rừng phòng hộ

RPH

14.462,12

15.282,82

820,70

820,69

0,01

1.5

Đất rừng đặc dụng

RDD

5.673,20

5.476,82

-196,38

-196,38

 

1.6

Đất rừng sản xuất

RSX

15.863,60

14.758,00

-1.105,60

-1.071,64

-33,96

1.7

Đất nuôi trồng thủy sản

NTS

177,25

163,14

-14,11

-13,85

-0,26

1.8

Đất làm muối

LMU

 

 

 

 

 

1.9

Đất nông nghiệp khác

NKH

0,76

17,52

16,76

16,76

 

2

Đất phi nông nghiệp

PNN

7.587,17

5.371,71

-2.215,46

-2.279,03

63,57

2.1

Đất quốc phòng

CQP

357,68

311,13

-46,55

-46,55

 

2.2

Đất an ninh

CAN

1,9

2,59

0,69

0,03

0,66

2.3

Đất khu công nghiệp

SKK

 

 

 

 

 

2.4

Đất khu chế xuất

SKT

 

 

 

 

 

2.5

Đất cụm công nghiệp

SKN

 

 

 

 

 

2.6

Đất thương mại, dịch vụ

TMD

 

7,02

7,02

3,32

3,70

2.7

Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp

SKC

36,09

17,32

-18,77

-29,00

10,23

2.8

Đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản

SKS

28,88

4,09

-24,79

-1,27

-23,52

2.9

Đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã

DHT

1.040,62

2.831,18

1.790,57

1.741,82

48,75

2.10

Đất có di tích lịch sử - văn hóa

DDT

 

0,06

0,06

0,05

0,01

2.11

Đất danh lam thắng cảnh

DDL

 

 

 

 

 

2.12

Đất bãi thải, xử lý chất thải

DRA

2,75

6,46

3,71

3,71

 

2.13

Đất ở tại nông thôn

ONT

2.873,48

1.217,48

-1.656,00

-1.653,58

-2,42

2.14

Đất ở tại đô thị

ODT

79,27

24,52

-54,75

-54,68

-0,07

2.15

Đất xây dựng trụ sở cơ quan

TSC

17,15

13,19

-3,96

-4,21

0,25

2.16

Đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp

DTS

 

0,46

0,46

0,46

 

2.17

Đất xây dựng cơ sở ngoại giao

DNG

 

 

 

 

 

2.18

Đất cơ sở tôn giáo

TON

 0,01

0,19

0,18

0,18

 

2.19

Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng

NTD

306,29

339,36

33,07

33,07

 

2.20

Đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm

SKX

4,37

17,52

13,15

10,03

3,12

2.21

Đất sinh hoạt cộng đồng

DSH

 

30,58

30,58

30,58

 

2.22

Đất khu vui chơi, giải trí công cộng

DKV

 

 

 

 

 

2.23

Đất cơ sở tín ngưỡng

TIN

3,01

4,50

1,50

0,40

1,10

2.24

Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối

SON

691,7

515,75

-175,95

-361,08

185,13

2.25

Đất có mặt nước chuyên dùng

MNC

2.131,10

28,31

-2.102,79

-1.939,42

-163,37

2.26

Đất phi nông nghiệp khác

PNK

12,88

 

-12,88

-12,88

 

3

Đất chưa sử dụng

CSD

809,03

1.056,05

247,02

236,14

10,88

 (Nguồn: Số liệu TKĐĐ 01.01.2011 – 01.01.2016 huyện Tân Lạc)

2.2.1. Biến động diện tích đất tự nhiên

                - Tổng diện tích tự nhiên của huyện năm 2015 giảm 115,66 ha so với năm 2010, diện tích giảm này do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014.

2.2.2. Biến động diện tích đất nông nghiệp

 Đất nông nghiệp năm 2015 tăng 1.852,78 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất nông nghiệp giảm 91,80 ha do chuyển sang đất phi nông nghiệp là 87,04 ha và đất chưa sử dụng là 4,76 ha;

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất nông nghiệp tăng 17,35 ha do khai thác đưa đất chưa sử dụng vào trồng rừng sản xuất;

- Diện tích tăng do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 1.927,23 ha;

Cụ thể biến động một số loại đất nông nghiệp chính như sau:

a) Đất trồng lúa:

Đất trồng lúa năm 2015 tăng 30,56 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất trồng lúa giảm 38,14 ha. Trong đó, do chuyển sang đất phi nông nghiệp là 25,49 ha; chuyển sang đất trồng cây hàng năm khác là 12,64 ha và chuyển sang đất rừng phòng hộ là 0,01 ha;

- Diện tích đất trồng lúa tăng do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 68,70 ha.

* Trong đó: Đất chuyên trồng lúa nước năm 2015 tăng 27,15 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất chuyên trồng lúa nước giảm 29,13 ha. Trong đó, do chuyển sang đất phi nông nghiệp là 16,49 ha và chuyển sang đất trồng cây hàng năm khác là 12,64 ha;

- Diện tích đất chuyên trồng lúa nước tăng do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 56,28 ha.

b) Đất trồng cây hàng năm khác:

Đất trồng cây hàng năm khác năm 2015 tăng 301,77 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất trồng cây hàng năm khác giảm 13,5 ha do chuyển sang đất phi nông nghiệp;

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất trồng cây hàng năm khác tăng 22,05 ha do chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Trong đó, do chuyển từ đất trồng lúa sang 12,64 ha; đất trồng cây lâu năm sang 7,06 ha và đất rừng sản xuất sang 2,35 ha.

- Diện tích đất trồng cây hàng năm khác tăng do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 293,22 ha.

c) Đất trồng cây lâu năm:

Đất trồng cây lâu năm tăng 1.999,09 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất trồng cây lâu năm giảm 10,85 ha do chuyển sang đất phi nông nghiệp là 3,79 ha và đất trồng cây hàng năm khác 7,06 ha;

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất trồng cây lâu năm tăng 0,20 ha do chuyển đổi từ đất rừng sản xuất sang.

- Diện tích đất trồng cây lâu năm tăng do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 2.009,74 ha.

d) Đất rừng phòng hộ:

Đất rừng phòng hộ năm 2015 tăng 820,70 ha so với năm 2010, nguyên nhân là do trong kỳ chuyển 0,01 ha đất trồng lúa sáng và tăng 820,69 ha do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014.

đ) Đất rừng đặc dụng:

                Đất rừng đặc dụng năm 2015 giảm 196,38 ha so với năm 2010, nguyên nhân là do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 giảm 196,38 ha.

                e) Đất rừng sản xuất:

                Đất rừng sản xuất năm 2015 giảm 1.105,6 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

                - Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất rừng sản xuất tăng 17,35 ha do khai thác đất chưa sử dụng vào trồng rừng;

                - Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất rừng sản xuất giảm 51,31 ha do chuyển sang đất phi nông nghiệp là 44,0 ha, chuyển sang đất trồng cây hàng năm khác là 2,35 ha và chuyển sang đất trồng cây lâu năm là 0,2 ha;

                - Diện tích đất rừng sản xuất giảm do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 1.071,64 ha.

                f) Đất nuôi trồng thủy sản:

                Đất nuôi trồng thủy sản năm 2015 giảm 14,11 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất nuôi trồng thủy sản giảm 0,26 ha do chuyển sang đất phi nông nghiệp;

- Diện tích đất nuôi trồng thủy sản giảm do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 13,85 ha.

2.2.3. Biến động diện tích đất phi nông nghiệp

Đất phi nông nghiệp năm 2015 giảm 2.215,46 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất phi nông nghiệp tăng 90,01 ha do chuyển từ đất nông nghiệp sang 87,04 ha và khai thác đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng 3,35 ha;

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất phi nông nghiệp giảm 26,53 ha sang đất chưa sử dụng, do năm 2010 số liệu kiểm kê đất đai tại xã Phú Cường đã thống kê sai loại hình sử dụng đất;

- Diện tích đất phi nông nghiệp giảm do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 2.279,03 ha.

Cụ thể biến động một số loại đất phi nông nghiệp chính như sau:

a) Đất quốc phòng:

Đất quốc phòng năm 2015 giảm 46,55 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là.

b) Đất an ninh:

Đất an ninh năm 2015 tăng 0,69 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất an ninh tăng 0,66 ha do chuyển từ đất rừng sản xuất sang.

- Diện tích đất an ninh tăng do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 0,03 ha.

c) Đất thương mại dịch vụ:

Đất thương mại dịch vụ năm 2015 tăng 7,02 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất thương mại dịch vụ tăng 3,70 ha do chuyển từ đất nông nghiệp sang 1,20 ha và đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp sang 2,50 ha.

- Diện tích đất thương mại dịch vụ tăng do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 3,32 ha.

d) Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp:

Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp năm 2015 giảm 18,77 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp tăng 12,73 ha do chuyển từ đất nông nghiệp sang 1,20 ha, đất phát triển hạ tầng sang 0,12 ha và đất trụ sở cơ quan sang 0,19 ha.

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp giảm 2,50 ha do chuyển sang đất thương mại dịch vụ.

- Diện tích đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp giảm do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 29,0 ha.

đ) Đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản:

Đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản năm 2015 giảm 24,79 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản tăng 3,01 ha do chuyển từ đất rừng sản xuất sang.

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản giảm 26,53 ha sang đất chưa sử dụng.

- Diện tích đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản giảm do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 1,27 ha.

e) Đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã:

Đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã năm 2015 tăng 1.790,57 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã giảm 0,12 ha sang đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp.

- Giai đoạn 2011-2015, diện tích đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã tăng 48,87 ha do chuyển từ đất nông nghiệp sang 45,29 ha, đất ở nông thôn sang 3,73 ha, đất ở đô thị sang 0,07 ha.

- Diện tích đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã tăng do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 1.741,82 ha.

f) Đất có di tích lịch sử - văn hóa:

Đất có di tích lịch sử - văn hóa năm 2015 tăng 0,06 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

- Giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất có di tích lịch sử - văn hóa tăng 0,01 ha do chuyển từ núi đá không có rừng cây sang.

- Diện tích đất có di tích lịch sử - văn hóa tăng do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 0,05 ha.

g) Đất bãi thải, xử lý chất thải:

Đất bãi thải, xử lý chất thải năm 2015 tăng 3,71 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014.

h) Đất ở tại nông thôn:

Đất ở tại nông thôn năm 2015 giảm 1.656,00 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

- Giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất ở nông thôn tăng 1,22 ha do chuyển từ đất nông nghiệp sang 1,15 ha và từ đất trụ sở sáng 0,07 ha.

- Giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất ở nông thôn giảm 3,64 ha do chuyển sang đất phát triển hạ tầng 3,51 ha và đất cơ sở tín ngưỡng 0,13 ha.

- Diện tích đất ở nông thôn giảm do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 1.653,58 ha.

i) Đất ở tại đô thị:

Đất ở tại đô thị năm 2015 giảm 54,75 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

- Giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất ở đô thị giảm 0,07 ha do chuyển sang đất phát triển hạ tầng.

- Diện tích đất ở đô thị giảm do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 54,68 ha.

j) Đất xây dựng trụ sở cơ quan:

Đất xây dựng trụ sở cơ quan năm 2015 giảm 3,96 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

- Giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất xây dựng trụ sở cơ quan tăng 0,51 ha do chuyển từ đất nông nghiệp sang 0,35 ha và đất chưa sử dụng sang 0,16 ha.

- Giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất xây dựng trụ sở cơ quan giảm 0,26 ha do chuyển sang đất thương mại dịch vụ 0,19 ha và chuyển sang đất ở nông thôn 0,07 ha.

 - Diện tích đất xây dựng trụ sở cơ quan giảm do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 4,21 ha.

k) Đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp:

Đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp năm 2015 tăng 0,46 ha so với năm 2010. Nguyên nhân tăng là do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014.

l) Đất cơ sở tôn giáo:

Đất cơ sở tôn giáo năm 2015 tăng 0,18 ha so với năm 2010. Nguyên nhân tăng là do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014.

m) Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng:

Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng năm 2015 tăng 33,07 ha so với năm 2010. Nguyên nhân tăng là do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014.

n) Đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm:

 Đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm năm 2015 tăng 13,15 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do;

- Giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm tăng 3,12 ha do chuyển từ đất nông nghiệp sang 0,23 ha và chuyển từ đất chưa sử dụng sang 2,89 ha.

- Diện tích đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm tăng do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 10,03 ha.

o) Đất sinh hoạt cộng đồng:

Đất sinh hoạt cộng đồng năm 2015 tăng 30,58 ha so với năm 2010. Nguyên nhân tăng là do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014.

p) Đất cơ sở tín ngưỡng:

Đất cơ sở tín ngưỡng năm 2015 tăng 1,5 ha so với năm 2010. Nguyên nhân tăng là do:

- Giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất cơ sở tín ngưỡng tăng 1,10 ha do chuyển từ đất nông nghiệp sang 0,97 ha và đất ở nông thôn sang 0,13 ha.

- Diện tích đất cơ sở tín ngưỡng tăng do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 0,4 ha.

q) Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối :

Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối năm 2015 giảm 175,95 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do :

- Giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối tăng 185,13 ha do chuyển từ đất có mặt nước chuyên dùng sang.

- Diện tích đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối giảm do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 361,08 ha.

r) Đất có mặt nước chuyên dùng:

Đất có mặt nước chuyên dùng năm 2015 giảm 2.102,79 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do:

- Giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất có mặt nước chuyên dùng tăng 21,76 ha do chuyển từ đất nông nghiệp sang;

- Giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất có mặt nước chuyên dùng giảm 185,13 ha do chuyển sang đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối.

- Diện tích đất có mặt nước chuyên dùng giảm do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 1.939,42 ha.

s) Đất phi nông nghiệp khác:

Đất phi nông nghiệp khác năm 2015 giảm 12,88 ha so với năm 2010. Nguyên nhân giảm là do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014.

2.2.4. Biến động đất chưa sử dụng

Đất chưa sử dụng năm 2015 tăng 247,02 ha so với năm 2010. Nguyên nhân là do :

- Giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất chưa sử dụng giảm 20,41 ha do chuyển sang đất rừng sản xuất 17,35 ha và chuyển sang đất phi nông nghiệp 3,06 ha ;

- Giai đoạn 2011 - 2015, diện tích đất chưa sử dụng tăng 31,39 ha do chuyển từ đất rừng sản xuất sang 4,76 ha và đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản sang 26,53 ha.

                - Diện tích đất chưa sử dụng tăng do số liệu kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 là 236,14 ha.

IV. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY HOẠCH, KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

 Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) huyện Tân Lạc đã được UBND tỉnh Hòa Bình phê duyệt theo Quyết định số 2779/QĐ-UBND, ngày 15/11/2013. Trong những năm qua UBND huyện đã tổ chức chỉ đạo thực hiện tốt công tác giao đất, cấp phép chuyển quyền sử dụng đất, xây dựng các dự án công trình theo quy hoạch đã được phê duyệt. Kết quả thực hiện cụ thể như sau:

1. Đánh giá kết quả thực hiện chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011 - 2015)

- Nhóm đất nông nghiệp: 46.661,33 ha, chiếm 87,89% diện tích tự nhiên, tăng 4,45% so với chỉ tiêu được duyệt.

- Nhóm đất phi nông nghiệp: 5.371,71 ha, chiếm 10,12% diện tích tự nhiên, đạt 65,15% so với chỉ tiêu được duyệt.

- Nhóm đất chưa sử dụng: 1056,05 ha, chiếm 1,99% diện tích tự nhiên, giảm 532,39 ha so với chỉ tiêu được duyệt.

 Bảng 8: Kết quả thực hiện chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011 – 2015

 

STT

Chỉ tiêu sử dụng đất

Diện tích quy hoạch được duyệt đến năm 2015 (ha)

Kết quả thực hiện

Diện tích hiện trạng năm 2015 (ha)

So sánh

Tăng (+); giảm (-) ha

Tỷ lệ (%)

-1

-2

-3

-5

-6

(7) = (6)-(5)

(8) =(6)/(5)*100%

 

TỔNG DIỆN TÍCH TỰ NHIÊN

 

53.204,75

53.089,09

-115,66

99,78

1

Đất nông nghiệp

NNP

44.672,44

46.661,33

1.988,89

104,45

 1.1

Đất trồng lúa

LUA

4.326,44

4.431,17

104,73

102,42

 

 Trong đó: Đất chuyên trồng lúa nước

LUC

3.159,14

3.192,35

33,21

101,05

 

Đất trồng lúa nước còn lại

LUK

1.167,30

1.238,80

71,50

106,13

 1.2

Đất trồng cây hàng năm khác

HNK

3.334,26

3.656,26

322,00

109,66

 1.3

Đất trồng cây lâu năm

CLN

870,12

2.875,61

2.005,49

330,48

 1.4

Đất rừng phòng hộ

RPH

14.462,69

15.282,82

820,13

105,67

 1.5

Đất rừng đặc dụng

RDD

5.870,82

5.476,82

-394,00

93,29

 1.6

Đất rừng sản xuất

RSX

15.621,95

14.758,00

-863,95

94,47

 1.7

Đất nuôi trồng thủy sản

NTS

185,40

163,14

-22,26

87,99

 1.8

Đất làm muối

LMU

 

 

 

 

 1.9

Đất nông nghiệp khác

NKH

0,76

17,52

16,76

2305,26

2

Đất phi nông nghiệp

PNN

7.999,65

5.371,71

-2.627,94

67,15

 2.1

Đất quốc phòng

CQP

486,17

311,13

-175,04

64,00

 2.2

Đất an ninh

CAN

9,42

2,59

-6,83

27,53

 2.3

Đất khu công nghiệp

SKK

41,90

0,00

-41,90

0,00

 2.4

Đất khu chế xuất

SKT

0

0,00

0,00

 

 2.5

Đất cụm công nghiệp

SKN

0,00

0,00

0,00

 

 2.6

Đất thương mại, dịch vụ

TMD

 

7,02

7,02

 

 2.7

Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp

SKC

54,73

17,32

-37,41

31,64

 2.8

Đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản

SKS

43,38

4,09

-39,29

9,43

 2.9

Đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã

DHT

1.149,61

2.831,18

1.681,57

246,27

 2.10

Đất có di tích lịch sử - văn hóa

DDT

6,50

0,06

-6,44

0,98

 2.11

Đất danh lam thắng cảnh

DDL

 

0,00

 

 

 2.12

Đất bãi thải, xử lý chất thải

DRA

14,35

6,46

-7,89

44,99

 2.13

Đất ở tại nông thôn

ONT

2920,23

1.217,48

-1.702,75

41,69

 2.14

Đất ở tại đô thị

ODT

83,07

24,52

-58,55

29,52

 2.15

Đất xây dựng trụ sở cơ quan

TSC

20,60

13,19

-7,41

64,04

 2.16

Đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp

DTS

19,99

0,46

-19,53

2,32

 2.17

Đất xây dựng cơ sở ngoại giao

DNG

 

0,00

 

 

 2.18

Đất cơ sở tôn giáo

TON

0,01

0,19

0,18

1923,10

 2.19

Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng

NTD

308,29

339,36

31,07

110,08

 2.20

Đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm

SKX

16,67

17,52

0,85

105,09

 2.21

Đất sinh hoạt cộng đồng

DSH

5,65

30,58

24,93

541,23

 2.22

Đất khu vui chơi, giải trí công cộng

DKV

 

0,00

 

 

 2.23

Đất cơ sở tín ngưỡng

TIN

4,70

4,50

-0,20

95,71

 2.24

Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối

SON

691,70

515,75

-175,95

74,56

 2.25

Đất có mặt nước chuyên dùng

MNC

2134,77

28,31

-2.106,46

1,33

 2.26

Đất phi nông nghiệp khác

PNK

13,55

0,00

 

0,00

3

Đất chưa sử dụng

CSD

532,66

1.056,05

523,39

198,26

(Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất 2010-2015, kiểm kê đất 2015 huyện Tân Lạc)

1.1. Đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp chỉ tiêu được duyệt đến năm 2015 là 44.672,44 ha; thực hiện 46.661,33 ha; cao hơn 1.988,89 ha và đạt 104,45% so với chỉ tiêu được duyệt.

Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch trong đất nông nghiệp, như sau:

- Đất trồng lúa chỉ tiêu được duyệt đến năm 2015 là 4.326,44 ha; thực hiện 4.4331,17 ha; cao hơn 104,73 ha và đạt 102,42% so với chỉ tiêu được duyệt. Trong đó, đất chuyên trồng lúa nước chỉ tiêu được duyệt đến năm 2015 là 3.159,14 ha; thực hiện 3.192,95 ha; cao hơn 33,21 ha và đạt 101,95 % so với chỉ tiêu được duyệt.

- Đất cây hàng năm khác chỉ tiêu được duyệt đến năm 2015 là 3.34,26 ha; thực hiện 3.656,26 ha; cao hơn 322,0 ha và đạt 109,66 % so với chỉ tiêu được duyệt.

- Đất cây lâu năm chỉ tiêu được duyệt đến năm 2015 là 870,12 ha; thực hiện 2.875,61 ha; cao hơn 2005,49 ha và đạt 330,48% so với chỉ tiêu được duyệt.

- Đất rừng phòng hộ chỉ tiêu được duyệt đến năm 2015 là 14.462,69 ha; thực hiện 15.282,82 ha; cao hơn 820,13 ha và đạt 105,67% so với chỉ tiêu được duyệt.

- Đất rừng sản xuất chỉ tiêu được duyệt đến năm 2015 là 15.621,95 ha; thực hiện 14.758,0 ha; thấp hơn 863,95 ha và đạt 94,47% so với chỉ tiêu được duyệt.

- Đất nuôi trồng thủy sản chỉ tiêu được duyệt đến năm 2015 là 185,4 ha; thực hiện 163,14 ha; thấp hơn 22,26 ha và đạt 87,99% so với chỉ tiêu được duyệt.

                1.2. Đất phi nông nghiệp

Đất phi nông nghiệp chỉ tiêu được duyệt đến năm 2015 là 7.999,65 ha; thực hiện  5.371,71 ha; thấp hơn 2.627,94 ha và đạt 67,15% so với chỉ tiêu được duyệt. Đất phi nông nghiệp thực hiện chưa đạt chỉ tiêu là do các dự án Quốc phòng, An ninh, khai thác khoáng sản, khai thác vật liệu xây dựng, các cụm công nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh...  chưa thực hiện. Ngoài ra các công trình hạ tầng thực hiện còn chậm do thiếu vốn như giao thông, thủy lợi, giáo dục, thể thao, ....

Kết quả thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch trong đất phi nông nghiệp, như sau:

- Đất quốc phòng chỉ tiêu được duyệt là 486,17 ha; thực hiện 311,13 ha; thấp hơn 175,04 ha và đạt  64% so với chỉ tiêu được duyệt.

Nguyên nhân là do trong kỳ kế hoạch chưa thực hiện được một số hạng mục công trình sau:

+ Bệnh viện 354 A (dự án Quốc Phòng) xã Quy Hậu diện tích 15 ha;

+ Bệnh viện động viên (dự án Quốc Phòng) xã Ngọc Mỹ diện tích 20 ha;

+ Trận địa đánh địch ĐBĐK xã Đông Lai diện tích 15 ha;

+ Căn cứ hậu cần của Tỉnh (xã Trung Hòa, Ngòi Hoa) diện tích 13,2 ha;

+ Kho xăng dầu và kho tổng hợp xã Thanh Hối diện tích 40 ha.

- Đất an ninh chỉ tiêu được duyệt là 9,42 ha; thực hiện 2,59 ha; thấp hơn 6,83 ha và đạt 27,53% so với chỉ tiêu được duyệt.

Nguyên nhân là do trong kỳ kế hoạch chưa thực hiện được các hạng mục công trình sau:

+ Trạm kiểm soát liên ngành diện tích 1,7 ha;

+ Đồn công an tại các xã diện tích 3,0 ha

- Đất khu, cụm công nghiệp chỉ tiêu được duyệt là 41,46 ha để xây dựng một phần cụm công nghiệp Đông Lai – Thanh Hối (tổng diện tích quy hoạch 22,9 ha) và một phần cụm công nghiệp Phong Phú – Mỹ Hòa (tổng diện tích quy hoạch 81 ha), đến 2015 huyện chưa thực hiện được hai hạng mục trên.

- Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp chỉ tiêu được duyệt 54,73 ha; thực hiện 17,32 ha; thấp hơn 37,41 ha và đạt 31,64% so với chỉ tiêu được duyệt.

Nguyên nhân là do trong kỳ kế hoạch chưa thực hiện được các hạng mục công trình chủ yếu sau:

+ Khu sản xuất kinh doanh Thung Yên xã Lũng Vân diện tích 4,0 ha;

+ Khu sản xuất kinh doanh Đồng Muông xã Quy Mỹ diện tích 5,0 ha;

+ Khu du lịch sinh thái cáp treo bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông xã Ngổ Luông diện tích 25 ha;

+ Khu du lịch sinh thái Thác Khanh xã Phú Cường diện tích 2,0 ha;

+ Cửa hàng viễn thông Viettel thị trấn Mường Khến diện tích 0,2 ha;

- Đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản chỉ tiêu được duyệt 43,38 ha; thực hiện 4,09 ha; thấp hơn 39,29 ha và đạt 9,43% so với chỉ tiêu được duyệt.

Nguyên nhân là do trong kỳ kế hoạch chưa thực hiện được các hạng mục công trình chủ yếu gồm khai thác khoáng sản tại xã Địch Giáo và Ngọc Mỹ với tổng diện tích 6,0ha.

- Đất phát triển hạ tầng chỉ tiêu được duyệt 1.149,61 ha; thực hiện 2.831,18 ha; cao hơn 1681,57 ha và đạt 246,27% so với chỉ tiêu được duyệt. Tuy nhiên thực tế rất nhiều hạng mục công trình như giao thông, thủy lợi... không thực hiện được do nguồn lực đầu tư còn nhiều hạn chế, các dự án đầu tư chậm triển khai thực hiện do thiếu vốn (diện tích đất phát triển hạ tầng tăng chủ yếu do kiểm kê).

- Đất bãi thải, xử lý chất thải chỉ tiêu được duyệt là 14,35 ha; thực hiện 6,46 ha; cao hơn 7,89 ha và đạt 44,99% so với chỉ tiêu được duyệt.

- Đất ở tại nông thôn chỉ tiêu được duyệt là 2920,23 ha; thực hiện 1217,48 ha; thấp hơn 1702,75 ha và đạt 41,69% so với chỉ tiêu được duyệt.

- Đất ở tại đô thị chỉ tiêu được duyệt là 83,07 ha; thực hiện 24,52 ha; thấp hơn 58,55 ha và đạt 29,52% so với chỉ tiêu được duyệt.

- Đất xây dựng trụ sở cơ quan chỉ tiêu được duyệt là 20,6 ha; thực hiện 13,19 ha; thấp hơn 7,41 ha và đạt 64,04% so với chỉ tiêu được duyệt.

- Đất nghĩa trang, nghĩa địa chỉ tiêu được duyệt là 308,29 ha; thực hiện 339,36 ha; cao hơn 31,07 ha và đạt 110,08% so với chỉ tiêu được duyệt.

- Đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ chỉ tiêu được duyệt là 16,67 ha; thực hiện 17,52 ha; thấp hơn 0,85 ha và đạt 105,09% so với chỉ tiêu được duyệt.

- Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối chỉ tiêu được duyệt là 6.91,70 ha, thực hiện 515,75 ha; thấp hơn 175,95 ha và đạt 74,56% so với chỉ tiêu được duyệt.

- Đất có mặt nước chuyên dùng chỉ tiêu được duyệt là 2134,77 ha, thực hiện 28,31 ha; thấp hơn 2106,46 ha và đạt 1,33% so với chỉ tiêu được duyệt.

- Đất phi nông nghiệp khác chỉ tiêu được duyệt là 13,55 ha, trong kỳ kế hoạch không thực hiện chỉ tiêu này.

1.3. Đất chưa sử dụng

Đất chưa sử dụng chỉ tiêu được duyệt đến năm 2015 còn 532,66 ha; kết quả thực hiện đất chưa sử dụng có 1.056,05 ha; cao hơn 523,39 so với chỉ tiêu được duyệt (diện tích đất chưa sử dụng tăng chủ yếu do kiểm kê và một phần được chuyển từ đất khai thác khoáng sản sang).

Trong kỳ quy hoạch 2010-2015 dự kiến đưa 306,39 ha đất chưa sử dụng vào sử dụng, trong kỳ đã đưa 20,41 ha vào sử dụng đạt 6,7%.

2. Đánh giá kết quả thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất kỳ đầu (2011 – 2015)

 

Bảng  9:  Kết quả thực hiện chuyển mục đích sử dụng đất kỳ đầu (2011- 2015)

Huyện Tân Lạc – tỉnh Hòa Bình

STT

Chỉ tiêu

Diện tích CMĐSD kỳ đầu (2011-2015) được duyệt

Kết quả thực hiện (2011-2015)

Diện tích CMĐSD thực hiện kỳ đầu  

So sánh

Tăng, giảm (ha)

Tỷ lệ (%)

-1

-2

-3

-4

-5

(6)=(5)-(4)

(7)=(5)/(4)*100

1

Đất nông nghiệp chuyển sang đất phi nông nghiệp

NNP/PNN

430,02

87,04

-342,98

20,24

1.1

Đất lúa nước

DLN/PNN

67,84

25,49

-42,35

37,57

 

Trong đó: đất chuyên trồng lúa nước

LUC/PNN

18,73

16,49

-2,24

88,04

1.2

Đất trồng cây lâu năm

CLN/PNN

9,54

3,79

-5,75

39,73

1.3

Đất rừng phòng hộ

RPH/PNN

21,39

0,00

-21,39

0,00

1.4

Đất rừng đặc dụng

RDD/PNN

0,42

0,00

-0,42

0,00

1.5

Đất rừng sản xuất

RSX/PNN

180,74

44,00

-136,74

24,34

1.6

Đất nuôi trồng thủy sản

NTS/PNN

0,35

0,26

-0,09

74,29

2

Chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong nội bộ đất nông nghiệp

 

25,12

35,95

10,83

143,11

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

2.4

Đất rừng sản xuất chuyển sang đất nông nghiệp không phải là rừng

RSX/NKR(a)

25,12

2,55

-22,57

10,15

* Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011-2015) huyện Tân Lạc và kết quả xử lý tính toán.

3. Kết quả thực hiện đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng kỳ đầu (2011 – 2015)

Bảng 10: Kết quả thực hiện đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng kỳ đầu (2011-2015)

 Huyện Tân Lạc – tỉnh Hòa Bình

STT

Chỉ tiêu

Diện tích kỳ đầu (2011-2015) được duyệt

Kết quả thực hiện 2015

Diện tích thực hiện

So sánh

Tăng, giảm (ha)

Tỷ lệ (%)

-1

-2

-3

-4

-5

(6)=(5)-(4)

(7)=(5)/(4)*100

 

Tổng diện tích

 

306,39

20,41

-285,98

6,66

1

Đất nông nghiệp

NNP

290,17

17,35

-272,82

5,98

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 1.5

Đất rừng sản xuất

RSX

188,97

17,35

-171,62

9,18

2

Đất phi nông nghiệp

PNN

16,22

3,06

-13,16

18,87

 

Trong đó:

 

 

 

 

 

 2.1

Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp

TSC

0,16

0,16

 

100,00

 2.6

Đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm

SKX

7,07

2,89

-4,18

40,88

 2.8

Đất di tích danh thắng

DDT

 

0,01

0,01

 

 2.9

Đất xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại

DRA

0,15

 

-0,15

 

 2.12

Đất có mặt nước chuyên dùng

SMN

0,16

 

-0,16

 

 2.13

Đất phát triển hạ tầng

DHT

5,39

 

-5,39

 

(Nguồn: Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu (2011-2015) huyện Tân Lạc và kết quả xử lý tính toán)

Tổng diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho các mục đích theo kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) được duyệt là 306,39 ha, kết quả thực hiện được 20,41 ha, thấp hơn chỉ tiêu được duyệt 285,98 ha, đạt 6,66% so với kế hoạch. Cụ thể:

- Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho mục đích phát triển nông nghiệp theo kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) được duyệt là 290,17 ha, kết quả thực hiện được 17,35 ha, đạt 5,98% so với kế hoạch. Nguyên nhân là do, trong những năm qua không thực hiện được hạng mục khai hoang đất chưa sử dụng đưa vào trồng cây hàng năm và trồng rừng sản xuất tại các xã như Phú Vinh, Phú Cường, Phong Phú, Quyết Chiến, Mãn Đức, Bắc Sơn...

Trong đó: Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào trồng rừng sản xuất được duyệt là 188,97 ha, kết quả thực hiện được 17,35 ha, thấp hơn chỉ tiêu được duyệt là 171,62 ha, đạt 9,81% so với kế hoạch.

                - Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho mục đích phi nông nghiệp theo kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) được duyệt là 16,22 ha, kết quả thực hiện được 3,06 ha, thấp hơn chỉ tiêu được duyệt 13,16 ha, đạt 18,87% so với kế hoạch. Cụ thể:

                + Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho mục đích xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp theo kế hoạch kỳ đầu được duyệt là 0,16 ha, kết quả thực hiện được 0,16 ha, đạt 100% so với kế hoạch;

                + Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho mục đích sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ theo kế hoạch kỳ đầu được duyệt là 7,07 ha, kết quả thực hiện được 2,89 ha, thấp hơn chỉ tiêu được duyệt 4,18 ha, đạt 40,88% so với kế hoạch;

                + Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho mục đích xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại, theo kế hoạch kỳ đầu được duyệt là 0,15 ha, trong giai đoạn 2011 – 2015 không thực hiện hạng mục này;

                + Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho mục đích đất có mặt nước chuyên dùng theo kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu được duyệt là 0,16 ha, trong giai đoạn 2011 – 2015 không thực hiện hạng mục này;

                + Diện tích đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng cho mục đích phát triển hạ tầng theo kế hoạch sử dụng đất kỳ đầu được duyệt là 5,39 ha, trong giai đoạn 2011-2015 không thực hiện hạng mục này.

                4. Đánh giá những mặt được, những tồn tại và nguyên nhân của tồn tại trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ trước

4.1. Những mặt đạt được            

Nhìn chung, việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện đã bám sát theo Quyết định số 2779/QĐ-UBND ngày 15/11/2013 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) huyện Tân Lạc; Quyết định số 94/QĐ-UBND ngày 22 tháng 01 năm 2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc phê duyệt Kế hoạch sử dụng đất năm 2015 huyện Tân Lạc.

                - Kết quả thực hiện trên cho thấy địa phương đã từng bước đi vào xây dựng kế hoạch sử dụng đất hợp lý, đây là bước khởi đầu thuận lợi cho việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm trên địa bàn huyện.

- Tình hình thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư được các ngành chức năng của huyện phối hợp thực hiện khá hiệu quả. Qua đó cho thấy sự quan tâm của các cấp, các ngành và Đảng bộ, UBND huyện đối với thực hiện kế hoạch sử dụng đất ngày càng sâu sát hơn. Kế hoạch sử dụng đất được duyệt là cơ sở cho việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Phần lớn các chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất được sử dụng phù hợp với quy mô, diện tích và địa điểm thực hiện, đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu sử dụng đất của các đơn vị, tổ chức kinh tế và nhân dân trên địa bàn huyện.

4.2. Những tồn tại hạn chế

- Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 – 2015) của huyện đã đáp ứng được yêu cầu của các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua, tuy nhiên chưa tạo được bước đột phá trong thu hút và khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài huyện. Bên cạnh đó quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định:

 - Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và quy hoạch các ngành khác chưa thực sự thống nhất, tình trạng tự phát, cục bộ thực hiện quy hoạch, kế hoạch của các ngành, các cấp vẫn còn diễn ra. Phần lớn các ngành còn lúng túng trong việc gắn kết giữa quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát triển các ngành, quy hoạch xây dựng đô thị và khu dân cư nông thôn.

- Nguồn lực đầu tư còn nhiều hạn chế, các dự án đầu tư chậm triển khai thực hiện do thiếu vốn.

- Việc tổ chức thực hiện pháp luật đất đai ở một số nơi vẫn còn một số trường hợp vi phạm như lấn chiếm đất đai, sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất lãng phí, vi phạm quy hoạch ...

- Danh mục các dự án trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những căn cứ pháp lý để giao đất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất do vậy khi lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất một số dự án không có tính khả thi cao nhưng khuynh hướng là đưa vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để có cơ sở pháp lý Nhà nước ra quyết định thu hồi đất và giao đất, cho thuê đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất vì vậy một số hạng mục trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thực hiện đạt kết quả thấp so với chỉ tiêu đã được duyệt.

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thường chưa tính hết khả năng về tài chính bởi phụ thuộc vào nhu cầu và khả năng đầu tư của xã hội và Nhà nước dẫn đến một số dự án, công trình không triển khai thực hiện được.

4.3. Đánh giá nguyên nhân của tồn tại trong thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

 - Tình hình kinh tế của huyện còn gặp nhiều khó khăn, thiếu nguồn vốn đầu tư hoặc nguồn vốn còn bị động gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc thực hiện các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch đã đề ra. Một số hạng mục công trình đã có trong chỉ tiêu kế hoạch sử dụng đất nhưng chủ đầu tư chưa lập xong dự án và hồ sơ đất đai nên phải lùi tiến độ thực hiện.

- Quỹ đất dự trữ để xây dựng các công trình phúc lợi công cộng ở địa phương còn nhiều hạn chế nên khi thực hiện phải thu hồi đất của dân và bồi thường làm ảnh hưởng đến kinh phí đầu tư và thời gian thực hiện.

- Công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi thu hồi đất để thực hiện các dự án đăng ký trong kế hoạch còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc dẫn đến dự án chậm triển khai thực hiện hoặc không triển khai được nên chỉ tiêu kế hoạch chưa đạt theo mục tiêu đề ra.

- Công tác kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa được sâu sát, cũng như chưa kiên quyết xử lý tình trạng tự ý chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất ngoài kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt.

- Một số chính sách về đất đai như Nghị định số 35/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất lúa; Nghị định 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư có ảnh hưởng rất lớn đồi với việc chuyển sang mục đích sử dụng đất phi nông nghiệp và thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn huyện.

- Việc đăng ký nhu cầu sử dụng đất trong quy hoạch, kế hoạch của một số ngành, địa phương khá nhiều, nhất là hạng mục đất phát triển hạ tầng nhưng do chưa dự báo được chính xác nguồn vốn đầu tư, đồng thời nguồn vốn đầu tư xây dựng của huyện phần lớn phụ thuộc vào ngân sách của Trung ương, tỉnh nên khi nguồn vốn gặp khó khăn dẫn đến không thực hiện được các công trình dự án như đã đăng ký.

5. Bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất kỳ tới

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cần thực hiện theo đúng quy trình; được lập từ tổng thể đến chi tiết; phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của tỉnh Hòa Bình, cũng như đảm bảo tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế - xã hội của các huyện, tỉnh lân cận; quy hoạch sử dụng đất phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã. Cần lường hết được những khó khăn trong quá trình thi công, giải phóng mặt bằng, vốn đầu tư, tránh quy hoạch treo không thực hiện được hoặc việc bố trí quỹ đất cho các mục đích sử dụng chưa phù hợp với nhu cầu thực tế.

- Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cần đảm bảo minh bạch, công khai và dân chủ; quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch cần có sự tham gia và ý kiến phản hồi của của người dân, cơ quan, tổ chức sử dụng đất.

- Các quy định của pháp luật về quản lý đất đai nói chung và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nói riêng, cần kịp thời cập nhật, thông tin và truyền thông đầy đủ và kịp thời cho các tổ chức, cá nhân sử dụng đất. Các thủ tục hành chính về đất đai cần được hướng dẫn cụ thể và thực hiện đầy đủ.

- Các thủ tục hành chính về đất đai cần chấp hành đẩy đủ theo trình tự, quy định, tránh để tồn đọng các giấy tờ, đây cũng là bài học hạn chế việc quản lý và sử dụng đất đai trái pháp luật

- Cần xác định rõ các hạng mục ưu tiên, nguồn vốn khả thi để thực hiện các công trình, dự án có sử dụng đất đảm bảo đúng tiến độ, trên nguyên tắc sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả, khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh và an ninh lương thực.

Phần II

PHƯƠNG ÁN ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

 

I. ĐIỀU CHỈNH ĐỊNH HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT

1. Khái quát phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội

                Trên cơ sở thực trạng phát triển kinh tế – xã hội của huyện trong 5 năm qua (2011 – 2015) và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội , định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của huyện Tân Lạc trong 5 năm tới và những năm tiếp theo được xác định như sau:

                - Phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc; chủ động, khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế, huy động mọi nguồn lực để tạo bước phát triển mới, mạnh mẽ về kinh tế, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường, sinh thái; tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh, giữ vững ổn định chính trị, xã hội; phấn đấu Tân Lạc đạt mức phát triển trung bình của tỉnh.

                - Phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững theo hướng tăng giá trị sản phẩm, phát huy những tiềm năng, thế mạnh của huyện, gắn phát triển sản xuất nông nghiệp với công nghiệp bảo quản chế biến và dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo an ninh lương thực, từng bước tạo sản phẩm hàng hóa mang thương hiệu Tân Lạc.

                - Thực tiện tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, tái cơ cấu lại các loại rừng phù hợp, ưu tiên cho rừng sản xuất; tích cực xúc tiến đầu tư, thu hút các nguồn vốn đầu tư cho sản xuất lâm nghiệp; khuyến khích người dân và các dự án đầu tư phát triển trồng rừng; nhân rộng các mô hình nông lâm nghiệp có hiệu quả kinh tế cao; thực hiện bổ sung quy hoạch đất rừng, tập trung bảo vệ rừng hiện có, xây dựng các vùng trồng rừng nguyên liệu gắn với cơ sở chế biến lâm sản nhằm đẩy mạnh phát triển và tăng cao giá trị sản xuất lâm nghiệp.

                - Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt tốc độ tăng trưởng cao, hiệu quả, bền vừng theo hướng hiện đại, giữ vai trò động lực quan trọng trong phát triển kinh tế và thực hiện mục tiêu cơ bản công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo điều kiện tốt nhất cho các doanh nghiệp đầu tư sản xuất trên địa bàn huyện, khuyến khích phát triển ngành sản xuất có lợi thế, sử dụng nguồn nguyên liệu của địa phương. Thực hiện rà soát và xác định lại các lợi thế của địa phương về phát triển tiểu thủ công nghiệp, có giải pháp hỗ trợ phát triển các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp.          

                - Đẩy mạnh các loại hình thương mại gắn với du lịch; quan tâm phát triển mạnh các dịch vụ truyền thống, giáo dục và đào tạo, văn hóa thông tin, thể thao, dịch vụ y tế, việc làm và các dịch vụ an sinh xã hội.

                - Phát huy nội lực, thu hút mọi thành phần kinh tế từ nhiều nguồn, nhiều hình thức tham gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Ưu tiên đầu tư phát triển hệ thống giao thông vận tải, và từng bước cải thiện mạng lưới giao thông nông thôn, giao thông ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa; Quan tâm đầu tư nâng cấp, sửa chữa các công trình nước sạch, hồ đập, bai dâng, trạm thủy luân tại các địa bàn trong huyện.

                - Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đẩy mạnh Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tăng cường thực hiện tốt công tác tuyên truyền cho các tầng lớp nhân dân về xây dựng nông thôn mới, tập trung huy động các nguồn lực, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ và tiếp tục tổ chức đào tạo nghề cho lao dộng trong khu vực nông thôn.

                - Lãnh đạo thực hiện tốt hoạt động ứng dụng khoa học, công nghệ, hướng trọng tâm vào phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, trong đó đẩy mạnh việc chuyển giao công nghệ và ứng dụng khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh vào thực tiễn cuộc sống, góp phần tích cực tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, nâng cao sức cạnh tranh trên lĩnh vực phát triển kinh tế.

                - Tập trung lãnh đạo thực hiện tốt công tác quản lý, sử dụng tài nguyên có hiệu quả, đúng quy định của pháp luật; tăng cường công tác tuyên truyền Luật đất đai và các văn bản quy định chi tiết thi hành Lật nhất là về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất đến với mọi người dân; nghiêm túc thực hiện kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt.

                                - Thực hiện tốt công tác tài chính, ngân sách. Tăng cường quản lý, khai thác các nguồn thu vào ngân sách nhà nước và công tác quản lý, điều hành chi ngân sách theo Luật quy định.

                                - Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực theo hướng nâng cao năng lực sư phạm và năng lực quản lý. Củng cố và hoàn thiện tổ chức mạng lưới y tế từ huyện đến các xã. Chú trọng phát triển văn hóa, thể thao, thông tin - truyền thông. Thực hiện tốt các chế độ, chính sách, các chương trình, dự án, công tác giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội và quan tâm đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho nhân dân.

2. Quan điểm sử dụng đất

Đất đai là tài nguyên hữu hạn, để đảm bảo sử dụng quỹ đất có hiệu quả, bền vững, đáp ứng được định hướng phát triển kinh tế xã hội của huyện và nhu cầu sử dụng đất của các ngành trong 5 năm tới và những năm tiếp theo. Trong quá trình sử dụng đất của huyện Tân Lạc cần phải quán triệt các quan điểm sử dụng đất sau:

                - Thứ nhất: Sử dụng đất một cách khoa học, hợp lý, tiết kiệm và phát triển bền vững. Giữ ổn định đất lúa để đảm bảo an ninh lương thực, đồng thời đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các ngành trong những năm trước mắt và đảm bảo đáp ứng cho phát triển ở những năm tiếp theo trên cơ sở khai thác, sử dụng đất có hiệu quả và bảo vệ môi trường phục vụ lâu dài cho nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của huyện.

                - Thứ hai: Sử dụng đất phải đảm bảo ngày một hiệu quả hơn, giá trị sản xuất trên 1 ha đất canh tác ngày một gia tăng hơn, trên cơ sở chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất trong nội bộ ngành nông nghiệp một cách hợp lý, đưa những cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao vào sản xuất.

- Thứ ba: Phân bổ quỹ đất cho các ngành sử dụng phải trên cơ sở định hướng, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của huyện trong 5 năm tới theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hóa, xây dựng nông thôn mới và ưu tiên đất cho sản xuất lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, trồng rừng kinh tế, phát triển công nghiệp, dịch vụ du lịch để khai thác lợi thế của huyện. Đồng thời bố trí đủ đất để phát triển đô thị và cơ sở hạ tầng nông thôn theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

                - Thứ tư: Quy hoạch sử dụng đất phải trên quan điểm phát triển bền vững về sinh thái và môi trường.

3. Định hướng sử dụng đất theo khu chức năng

3.1. Đất cho sản xuất nông, lâm, thủy sản

                Với thực trạng sử dụng đất đai của Tân Lạc như hiện nay, tiềm năng mở rộng đất nông nghiệp trên đất chưa sử dụng không còn nhiều; tuy nhiên tiềm năng đất nông nghiệp của huyện còn rất lớn về phương diện tăng vụ, thâm canh, chuyển đổi mục đích sử dụng trong nội bộ ngành nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

                - Về tăng hệ số sử dụng đất canh tác: Trên cơ sở chuyển đổi mùa vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng vụ trên đất 1 vụ lúa, phát triển đa dạng hóa  cây trồng để tăng hệ số sử dụng đất canh tác, đưa từ khoảng 1,7 lần như hiện nay lên 2,2 lần vào năm 2020.

                - Về chuyển đổi loại hình sử dụng đất trong nội bộ đất nông nghiệp: Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên cơ sở thực trạng các loại đất nông nghiệp, trong kỳ quy hoạch đến năm 2020 cần tiếp tục chuyển diện tích đất 1 vụ sang sản xuất 2 vụ và trồng các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao. Chuyển một số diện tích trồng các loại cây hiệu quả thấp sang trồng cỏ, cây thức ăn gia súc chăn nuôi trâu bò.

                - Về khai thác đất chưa sử dụng đưa vào đất nông nghiệp: Do trong 10 năm qua huyện đã tập trung đầu tư khai thác đất chưa sử dụng vào sản xuất nông nghiệp (bình quân trên 800 ha/năm). Hiện nay đất chưa sử dụng của huyện còn lại chỉ có 1.055 ha và hầu hết là khó khai thác cần đầu tư cao. Theo kết quả tổng hợp tiềm năng khai thác đất chưa sử dụng đưa vào sử dụng ở các xã trong 5 năm tới toàn huyện khoảng 400 ha (chủ yếu sử dụng cho đất lâm nghiệp, đất trồng cây hàng năm khác và đất trồng cây lâu năm).

Trong giai đoạn tới diện tích đất nông nghiệp ở huyện tiếp tục bị thu hẹp để chuyển sang mục đích sử dụng phi nông nghiệp, dự kiến quỹ đất nông nghiệp đến năm 2020 còn khoảng 46.000 ha.

- Đất trồng lúa nước

+ Duy trì diện tích đất trồng lúa khoảng 4.000 – 4.200 ha, trong đó diện tích đất trồng lúa 2 vụ giữ ổn định khoảng 3.000 – 3.100 ha.

- Đất trồng cây hàng năm

                + Tận dụng, sử dụng hiệu quả diện tích đất bằng để trồng cây màu ngắn ngày và rau, đậu. Bố trí sử dụng đất hợp lý để hình thành các vùng cây hàng hóa. Dự kiến đến năm 2020, diện tích đất trồng cây hàng năm khác còn 3.500 ha.

- Đất trồng cây lâu năm: duy trì diện tích khoảng 3.500 – 3.800 ha

- Đất lâm nghiệp: Chăm sóc, bảo vệ, quản lý tốt diện tích rừng hiện có, phát triển rừng, mở rộng diện tích trồng luồng, bương, tre trên địa bàn huyện để tăng độ che phủ của thảm thực vật rừng và cung cấp nguyên liệu chế biến. Dự kiến đến năm 2020, diện tích đất lâm nghiệp trên địa bàn huyện có khoảng 34.200 ha.

- Đất nuôi trồng thủy sản: duy trì diện tích đất NTTS khoảng 160 ha vào năm 2020.

3.2. Đất cho phát triển thương mại, du lịch

Cần được ưu tiên dành quỹ đất cho phát triển thương mại, du lịch để phát huy lợi thế của huyện. Hướng bố trí các quỹ đất gắn với danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, văn hóa,... để mang lại hiệu quả cao và ít ảnh hưởng tới các lĩnh vực sản xuất khác, phù hợp với quy hoạch phát triển du lịch của Hòa Bình đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.

Quy hoạch xây dựng các điểm sản xuất kinh doanh tại thị trấn Mường Khến, Phong Phú, Mãn Đức, Tử Nê, Lỗ Sơn.

Theo quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của huyện đến năm 2020 trên địa bàn huyện Tân Lạc tập trung đầu tư xây dựng các điểm du lịch làng Mường cổ, khu du lịch sinh thái núi Cột Cờ (xã Phong Phú), khu du lịch sinh thái Động Tớn (xã Nam Sơn), khu du lịch Hang Muối, động Mường Chiềng (thị trấn Mường Khến), động Thác Bờ, động Hoa Tiên (xã Ngòi Hoa), khu du lịch sinh thái lòng hồ hòa Bình, khu du lịch sinh thái cáp treo bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông, khu du lịch sinh thái Thung Mây xã Quyết Chiến, các điểm du lịch sinh thái tại xã Ngòi Hoa...Cần phát triển các điểm dịch vụ gắn liền với các điểm du lịch trên.

3.3. Đất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp

Nhu cầu đất xây dựng các cụm, điểm công nghiệp trong kỳ quy hoạch của huyện khoảng 53,0 ha. Ở các địa bàn dự kiến quy hoạch các cụm, điểm công nghiệp, đất đai tương đối bằng, rất thuận tiện cho việc triển khai thi công, xây dựng. Tuy nhiên hiện nay ở các địa bàn này hầu hết diện tích đã được sử dụng các mục đích phát triển kinh tế – xã hội (chủ yếu đất trồng cây hàng năm), do đó cần bố trí chu chuyển các loại đất sang đất công nghiệp cho phù hợp.

                - Sản xuất vật liệu xây dựng hiện đang là ngành sản xuất chính trong sản xuất công nghiệp ở địa phương, các ngành nghề chính là khai thác đá, cát, sỏi, sản xuất gạch, ngói, vôi. Định hướng trong những năm tới tập trung phát triển các loại vật liệu mới như tấm lợp, gạch không nung, gạch bloc cốt nhẹ tập trung tại các xã Phong Phú, Quyết Chiến, Thanh Hối, Đông Lai, Gia Mô, Quy Hậu, Tuân Lộ, Tử Nê.

                - Tiếp tục duy trì và phát triển mạnh các hoạt động khai thác khoáng sản chủ yếu là quặng và than. Quá trình khai thác đảm bảo tuân thủ theo quy hoạch, chú trọng công tác bảo vệ môi trường và an sinh cho nhân dân trong vùng. Các điểm khai thác dự kiến tập trung trên địa bàn xác xã Tuân Lộ, Do Nhân, Lỗ Sơn.

3.4. Đất cơ sở hạ tầng

- Để phát triển cơ sở hạ tầng theo quy hoạch tổng thể kinh tế xã hội của huyện đến năm 2020 đề ra, cần khoảng 257 ha đất. Trong đó phần lớn sử dụng để mở rộng và làm mới hệ thống đường giao thông (khoảng 178 ha), xây dựng hệ thống công trình thủy lợi, công trình năng lượng, hệ thống công trình phục vụ cho giáo dục đào tạo, văn hóa thể dục, thể thao, chợ (khoảng 79 ha); hầu hết các công trình này đều được xây dựng tại đô thị và các khu dân cư nông thôn; tại những khu vực này, hiện nay diện tích đất nông nghiệp vẫn còn tương đối cao (khu đô thị khoảng 130ha, khu vực nông thôn khoảng 350ha) nên chuyển đất nông nghiệp sang đất phát triển hạ tầng là thuận lợi, phù hợp với sử dụng đất đô thị và đất khu dân cư nông thôn.

II. PHƯƠNG ÁN ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

1. Chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội

1.1 Chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

1.1.1 Chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế

                Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất của huyện giai đoạn 2016-2020 đạt bình quân 20,0%/năm; Trong đó khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản tăng 5,0%/năm; khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 15,0%/năm; khu vực dịch vụ – thương mại tăng 16,5%/năm.

1.1.2 Chỉ tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế

                - Giảm tỷ trọng khu vực kinh tế nông nghiệp từ 40,5% năm 2015, đến 2020 còn 35%.

                - Tăng tỷ trọng khu vực kinh tế công nghiệp – xây dựng từ 24% năm 2015 lên 26% vào năm 2020.

                - Tăng tỷ trọng khu vực kinh tế dịch vụ từ 35,5% năm 2015 lên 39% năm 2020.     

                1.2. Chỉ tiêu quy hoạch phát triển các ngành kinh tế

Theo quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của huyện đến năm 2020, một số chỉ tiêu phát triển của các ngành kinh tế giai đoạn 2016 – 2020 như sau:

1.2.1. Khu vực kinh tế nông nghiệp

a) Nông nghiệp: Phấn đấu đưa giá trị sản xuất trên 1 ha đất sản xuất nông nghiệp đạt 100- 120 triệu đồng vào năm 2020. Phát huy tối đa lợi thế so sánh của huyện để hình thành các vùng chuyên canh tập trung với quy mô thích hợp, phát triển mạnh các dịch vụ hỗ trợ, nhằm tạo khối lượng nông sản hàng hoá tương đối lớn, có giá trị kinh tế cao, đảm bảo tỷ suất hàng hóa đạt khoảng 60%. Đảm bảo an toàn lương thực, đồng thời chuyển mạnh sang an toàn dinh dưỡng và nâng cao chất lượng cuộc sống để phát triển cộng đồng, tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho các giai đoạn phát triển tiếp theo. Tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản xuất chăn nuôi trong nông nghiệp trên cơ sở lợi thế về chăn nuôi đại gia súc; phấn đấu năm 2020 tỷ trọng chăn nuôi đạt 40%. Một số chỉ tiêu cụ thể như sau:

- Ổn định diện tích gieo cấy lúa khoảng 4200 ha, diện tích ngô 3.800 – 4.000 ha; sản lượng lương thực có hạt năm 2020 đạt 45 nghìn tấn, đảm bảo lương thực bình quân trên đầu người đạt khoảng 500 kg/người/năm.

- Chú trọng phát triển cây mía và cây lạc là những cây công nghiệp ngắn ngày truyền thống mang tính hàng hóa cao (1.900- 2000 ha mía, 300-400 ha lạc).

                                - Phấn đấu giữ ổn định đàn trâu khoảng 14 nghìn con; đàn bò đến năm 2020 có 8500 con; đàn lợn có 60 nghìn con; đàn gia cầm đạt 600 nghìn con. Hình thành các vùng chăn nuôi hàng hoá tập trung theo hình thức trang trại; đến năm 2020 chăn nuôi bò tập trung chiếm 20-25% tổng đàn, chăn nuôi lợn hàng hoá tập trung chiếm khoảng 15-20% tổng đàn; chăn nuôi gia cầm tập trung đạt khoảng 30 – 35% tổng đàn.

b) Lâm nghiệp: Xây dựng Lâm phần ổn định theo 3 loại rừng, dự kiến đến năm 2020 diện tích rừng của huyện ổn định khoảng 34 nghìn ha, trong đó giữ ổn định 5.468 ha ha rừng đặc dụng (khu bảo tồn thiên nhiên) hiện có; mở rộng diện tích trồng luồng, bương, tre trên địa bàn toàn huyện, giữ ổn định độ che phủ rừng 49% vào năm 2020 và cung cấp nguyên liệu cho chế biến. Khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư chế biến lâm sản tại địa bàn để nâng cao giá trị sản phẩm rừng. 

c) Thủy sản: Trong những năm tới ngành thủy sản tập trung vào thâm canh áp dụng công nghệ mới trong nuôi cá để tăng năng suất nuôi trồng. Các xã vùng lòng hồ phát triển nuôi cá lồng và đánh bắt khai thác tự nhiên. Giá trị sản xuất thuỷ sản dự kiến đạt khoảng 42,0 tỷ đồng năm 2020 (theo giá hiện hành).

1.2.2. Khu vực kinh tế công nghiệp

- Phấn đấu tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp – xây dựng giai đoạn 2016 – 2020 đạt bình quân 16%/năm để đưa tỷ trọng khu vực kinh tế công nghiệp, xây dựng trong cơ cấu nền kinh tế năm 2020 khoảng 26%.

                                - Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên cơ sở khai thác và sử dụng hiệu quả các lợi thế so sánh của huyện; động viên và tạo điều kiện để mọi thành phần kinh tế tham gia phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; tranh thủ các dự án đầu tư và mở rộng thị trường tiêu thụ các mặt hàng có lợi thế. Tập trung phát triển tiểu thủ công nghiệp gắn với ngành nghề truyền thống (thêu, dệt thổ cẩm, chăn, đệm, đan lát, rượu cần dân tộc, đồ lưu niệm mang tính đặc trưng như nhạc cụ dân tộc, mô hình nhà sàn, búp bê với trang phục dân tộc); công nghiệp chế biến nông, lâm sản (chế biến đậu tương, chè, tinh bột dong riềng, nguyên liệu giấy, các loại bún, bánh, các mặt hàng hoa quả phơi sấy khô, mứt từ lạc và các loại củ quả, các sản phẩm chăn nuôi); sản xuất vật liệu xây dựng (khai thác đá, cát, sỏi, sản xuất gạch, ngói, vôi).

- Có chính sách, cơ chế khuyến khích đầu tư để phát triển cụm công nghiệp Phong Mỹ (xã Mỹ Hòa, Phong Phú) và cụm công nghiệp Đông Lai – Thanh Hối (xã Đông Lai, Thanh Hối).

1.2.3. Khu vực kinh tế dịch vụ

- Tập trung phát triển các ngành dịch vụ, thương mại và du lịch để nhanh chóng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; phấn đấu giai đoạn 2016 – 2020 tăng trưởng đạt khoảng 16,5%/năm để đến năm 2020 chiếm tỷ trọng 39% trong cơ cấu kinh tế của huyện.

-  Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về hoạt động các ngành dịch vụ như Công nghệ thông tin, Bưu chính viễn thông, Vận tải, Bảo hiểm...

                                - Từng bước phát triển ngành du lịch của huyện thành ngành kinh tế mũi nhọn phù hợp với phát triển du lịch của tỉnh, của vùng, đặc thù của từng địa phương, tương xứng với tiềm năng du lịch của huyện và đảm bảo tính bền vững, tạo lập và duy trì nguồn khách thường xuyên và ổn định. Tăng cường đầu tư xây dựng các điểm du lịch tại các địa danh đã được biết đến trên bản đồ du lịch như làng Mường cổ, khu du lịch sinh thái núi Cột cờ, khu quần thể di tích lịch sử văn hóa Mường Bi (xã Phong phú), khu du lịch sinh thái Động Tớn (xã Nam Sơn)...

1.3. Chỉ tiêu dân số việc làm và thu nhập

- Ổn định tốc độ tăng dân số tự nhiên ở mức 1,0%/năm giai đoạn 2016 – 2020. Dân số năm 2020 khoảng 89,2 nghìn người.

                - Chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm dần tỷ trọng lao động nông, lâm nghiệp, tăng tỷ trọng lao động công nghiệp và lao động dịch vụ. Phấn đấu đến năm 2020 cơ cấu lao động của huyện: Khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 67,5%, khu vực công nghiệp – xây dựng chiếm 8,5 %, khu vực dịch vụ, thương mại chiếm 24,0 %.

                - Tiếp tục thực hiện công tác đào tạo nghề và hướng nghiệp cho người lao động bằng nhiều hình thức để tỷ lệ lao động được đào tạo so với tổng số lao động đạt 55% năm 2020, trong đó 20% có bằng cấp, chứng chỉ.

                - Phấn đấu mỗi năm giải quyết việc làm khoảng 1.400 lao động. Nâng thời gian sử dụng lao động khu vực nông thôn lên khoảng 90% vào năm 2020.

- Giá trị tăng thêm (theo giá hiện hành) bình quân trên đầu người đến năm 2020 đạt 50 triệu đồng. Tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2020 giảm xuống còn khoảng 2,0%.

1.4. Chỉ tiêu phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn

1.4.1. Hệ thống đô thị

                 Xây dựng thị trấn Mường Khến trở thành thị trấn trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của huyện, dân số đến năm 2020 đạt khoảng 9.000 người như quy hoạch đã đề ra.

1.4.2. Các khu dân cư nông thôn

                Ngoài việc mở rộng các khu dân cư nông thôn hiện có trên cơ sở xây dựng các điểm dân cư mới trong các xã. Từ nay đến năm 2020 tập trung đầu tư xây dựng 2 khu tái định cư (Phú Vinh, Phú Cường) và từng bước thực hiện đô thị hóa, hiện đại hóa nông thôn theo tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

1.5. Chỉ tiêu phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội

Theo quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của huyện đến năm 2020, để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội trong kỳ quy hoạch cần tập trung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội như sau:

1.5.1. Phát triển hệ thống hạ tầng kỹ thuật

                 a) Về giao thông:

                                - Nâng cấp mở rộng QL6, QL12B;

                                - Nâng cấp, mở rộng tuyến tỉnh lộ 440, tỉnh lộ 435, tỉnh lộ 436;

                                - Nâng cấp, mở rộng các tuyến đường huyện quản lý để đảm bảo giao thông thông suốt từ huyện lỵ đến các trung tâm xã theo tiêu chuẩn đường cấp cấp IV, cấp V miền núi và được nhựa hoá 100%.

                                - Thực hiện tốt phương châm “nhà nước và nhân dân cùng làm” để nâng cấp, cải tạo hệ thống giao thông nông thôn đạt tiêu chuẩn đường GTNT loại A và loại B. Đến 2020 có 85% đường GTNT loại A được bê tông hoá, nhựa hoá.

                                - Nâng cấp bến xe trung tâm tại thị trấn Tân Lạc với các hạng mục công trình chính gồm: nhà chờ, phòng bán vé được xây dựng kiên cố, bãi đỗ xe được trải nhựa.

                                - Trên tuyến quốc lộ 6 chạy qua huyện, cần bố trí thêm điểm chờ xe cho du khách tại vị trí thị trấn Mường Khến.

                     - Xây dựng các bến phụ tại các vị trí đầu mối trong huyện, khuyến khích mở các tuyến xe khách mới để phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân, tăng cường hoạt động vận tải hành khách.

 

                                - Phát triển giao thông thủy trên hồ Hoà Bình, trên sông Đà để vận chuyển hàng hoá, trong đó tuyến giao thông cơ bản là từ thành phố Hoà Bình về Tân Lạc.

b) Về thủy lợi:

                                - Tiếp tục kiên cố hoá, nâng cấp các tuyến kênh mương để giảm thất thoát nước, nâng cao hiệu suất phục vụ của các công trình.

                                - Duy tu, sửa chữa công trình cần nâng cấp trong kỳ quy hoạch thuộc địa bàn các xã: Quy Mỹ, Địch Giáo, Mãn Đức, Lỗ Sơn, Thanh Hối, Phong Phú, Quy Hậu.

                                - Xây dựng mới một số hồ chứa và các công trình thuỷ lợi nhỏ (đập phai và kênh) để nâng diện tích đất trồng lúa được tưới từ 85% (lúa xuân) lên 95% năm 2020. Đảm bảo tưới cho một số diện tích màu, cây công nghiệp ngắn ngày. 

c) Cơ sở dịch vụ, thương mại, du lịch.

                                - Tiếp tục đầu tư xây dựng mới một số chợ tập trung trên địa bàn huyện tạo thuận lợi giao lưu hàng hoá, phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

                                - Hoàn thiện chợ đầu mối tại trung tâm huyện, hình thành trung tâm trung chuyển, bán buôn, phân phối hàng hoá về các địa phương trong huyện.

                                - Xây dựng các cơ sở dịch vụ tại các điểm danh thắng du lịch để khai thác tiềm năng du lịch của huyện.

d) Hệ thống lưới điện

                                - Những năm tới cần tiếp tục rà soát lại mạng lưới điện, bổ sung quy hoạch cho phù hợp với tình hình mới, phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện, đảm bảo đến năm 2015 có 98% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia và đến năm 2020 đạt 100%.

                                - Cải tạo, nâng cấp đường dây hạ áp trục chính, bố trí các trạm biến áp cho phù hợp, tại mỗi thôn, bản nên bố trí có 1 đến 2 trạm biến áp nhỏ (công suất từ 50 – 100 KVA).

                                - Tại các điểm công nghiệp có các cơ sở sản xuất đi vào hoạt động cần xây dựng bổ sung trạm và đường dây ngay từ giai đoạn đầu để khuyến khích đầu tư.

e) Bưu chính viễn thông.

                                - Mở rộng và đầu tư lắp đặt thêm hệ thống chuyển mạch tại một số vùng trọng điểm, điển hình là tại thị trấn, đưa vào khai thác sử dụng thêm nhiều dịch vụ viễn thông tiện ích.

                                - Phát triển hệ thống truyền dẫn công nghệ cao, cáp quang đến một số xã có điều kiện. Nghiên cứu ứng dụng công nghệ không dây tốc độ cao, phù hợp với địa hình miền núi, vùng sâu, vùng xa.

                                - Phấn đấu đến năm 2020 đưa dịch vụ Internet đến tất cả các trung tâm xã, từng bước tiếp cận công nghệ với mạng truyền thông để nâng hiệu quả sử dụng.

                                - Đầu tư mở rộng vùng phủ sóng, tạo thuận lợi để nhân dân sử dụng thiết bị di động, đến năm 2020 có 65 – 70 máy/100 dân.

1.5.2 Phát triển hệ thống hạ tầng văn hóa, xã hội

a) Cơ sở giáo dục:

- Mở rộng một số trường hiện chưa đủ về quy mô diện tích theo chuẩn; xây dựng thêm một số trường mầm non, tiểu học ở những địa bàn chưa có.

                                - Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất trường học để đến năm 2020 không còn phòng học bán kiên cố.

- Đầu tư cơ sở vật chất, trang bị đầy đủ thiết bị dạy và học. Tăng cường cơ sở vật chất trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm dạy nghề, trung tâm bồi dưỡng chính trị, trung tâm giáo dục cộng đồng.

b) Cơ sở y tế:

                                                - Tiếp tục củng cố và phát triển mạng lưới y tế cơ sở, phấn đấu đến năm 2020 có 10/24 xã, thị trấn đạt tiêu chuẩn Quốc gia về y tế, tỷ lệ người dân tham gia đóng bảo hiểm y tế 95%, đảm bảo đủ điều kiện khám chữa bệnh cho nhân dân.

- Đầu tư nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện, trung tâm y tế dự phòng.

c) Cơ sở văn hóa, thể thao:

- Phấn đấu đến năm 2020 có 85% số thôn bản có nhà văn hóa sinh hoạt cộng đồng đạt tiêu chí nông thôn mới; năm 2020 có 50% thôn bản có sân luyện tập thể dục thể thao.

                                - Bố trí quỹ đất, đầu tư xây dựng để đến năm 2020 mỗi xã có 1 sân thể thao trung tâm, diện tích tối thiểu 5.000 m2, tại đây có thể xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng làm nơi sinh hoạt các câu lạc bộ thể thao...

- Ở trung tâm huyện đầu tư xây dựng khu văn hóa, nhà truyền thống huyện.

- Xây dựng quần thể khu di tích lịch sử văn hóa Mường Bi xã Phong Phú.

d) Các cơ quan, công sở:

                Phấn đấu đến năm 2020 công sở các cơ quan nhà nước, đoàn thể từ huyện đến xã được xây dựng kiên cố hóa, đảm bảo đủ diện tích làm việc theo quy định của Nhà nước.

2. Cân đối, phân bổ diện tích các loại đất cho các mục đích sử dụng

2.1. Chỉ tiêu sử dụng đất được tỉnh phân bổ

Bảng 11:  Phân bổ các chỉ tiêu sử dụng đất

trên địa bàn huyện Tân Lạc

 

STT

Chỉ tiêu

Diện tích quy hoạch đến năm 2020

Tỷ lệ (%)

 

TỔNG DIỆN TÍCH
ĐẤT TỰ NHIÊN

53.089,09

 

1

Đất nông nghiệp

44.712,16

84,22

 

Trong đó:

 

 

1.1

Đất trồng lúa

3.910,23

7,37

 

Trong đó: Đất chuyên trồng lúa nước

3.130,28

5,90

1.2

Đất rừng phòng hộ

11.954,69

22,52

1.3

Đất rừng đặc dụng

9.464,79

17,83

1.4

Đất rừng sản xuất

14.509,53

27,33

1.5

Đất nuôi trồng thuỷ sản

106,35

0,20

2

Đất phi nông nghiệp

7.692,90

14,49

 

Trong đó:

 

 

2.1

Đất quốc phòng

471,01

0,89

2.2

Đất an ninh

4,09

0,01

2.3

Đất khu công nghiệp

0,00

 

2.4

Đất cụm công nghiệp

90,69

0,17

2.5

Đất phát triển hạ tầng

3.752,38

7,07

 

Trong đó:

 

 

-

Đất cơ sở văn hoá

37,66

0,07

-

Đất cơ sở y tế

9,64

0,02

-

Đất cơ sở giáo dục và đào tạo

53,93

0,10

-

Đất cơ sở thể dục thể thao

48,19

0,09

2.6

Đất có di tích, danh thắng

8,37

0,02

2.7

Đất bãi thải, xử lý chất thải

16,86

0,03

2.8

Đất ở tại đô thị

31,03

0,06

3

Đất chưa sử dụng

684,03

1,29

-

Đất chưa sử dụng còn lại

684,03

 

-

Diện tích đưa vào sử dụng

372

 

4

Đất đô thị*

399,52

0,75

 

(Nguồn:chỉ tiêu phân bổ đất theo văn bản số 1510/UBND-NNTN ngày 24 tháng 10 năm 2017 của UBND tỉnh Hòa Bình)

2.2. Nhu cầu sử dụng đất cho các ngành, lĩnh vực

                Tổng hợp kết quả làm việc với các phòng, ban trong huyện và những yêu cầu sử dụng đất tại địa bàn huyện Tân Lạc trong quy hoạch của các ngành ở tỉnh cho thấy để các ngành thực hiện được định hướng và các mục tiêu phát triển, nhu cầu sử dụng đất của các ngành trong kỳ quy hoạch đến năm 2020 như sau:

                2.2.1. Ngành nông nghiệp

                a) Đất sản xuất nông nghiệp:

Để đạt mục tiêu phát triển nông nghiệp đến năm 2020, diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm đạt khoảng 14.000 - 15.000 ha; phấn đấu hệ số sử dụng đất đạt 2,2 lần thì diện tích đất cây hàng năm cần có 7.000 - 7.500 ha. Trong đó có khoảng 5.000 - 5.400 ha gieo trồng lúa/năm, và để đạt được diện tích trên thì nhu cầu đất chuyên trồng lúa nước khoảng 3.100 ha (cần được bảo vệ nghiêm ngặt khoảng 2.500 - 2.700 ha).

 Để đạt được mục tiêu phát triển cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm khoảng 3.800 ha; ngoài diện tích hiện có trong kỳ quy hoạch cần bố trí chuyển đổi 920 ha đất rừng sản xuất và 30 ha đất trồng cây hàng năm sang đất trồng cây lâu năm.

b) Đất lâm nghiệp:

                Để từng bước đưa lâm nghiệp trở thành ngành kinh tế quan trọng; Đồng thời giữ ổn định độ che phủ rừng ở mức 49% vào năm 2020, cần phải tăng cường chăm sóc, nâng cao chất lượng rừng và giữ ổn định khoảng 34 nghìn ha rừng (gồm cả diện tích rừng đặc dụng trong khu bảo tồn thiên nhiên), khai thác khoảng 260 ha đất chưa sử dụng đưa vào trồng rừng sản xuất để nâng cao giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp.

c) Đất nuôi trồng thủy sản:

                Với định hướng phát triển ngành thủy sản và mục tiêu phát triển nuôi trồng thủy sản; nhu cầu đất để nuôi trồng thủy sản của huyện đến năm 2020 là 160 ha.

2.2.2. Ngành công nghiệp

                a) Đất công nghiệp:

Trong kỳ quy hoạch trên địa bàn huyện cần bố trí khoảng 53 ha đất công nghiệp để dự kiến đầu tư xây dựng các cụm công nghiệp sau:

- Cụm công nghiệp Phong Mỹ: 25,0 ha.

- Cụm công nghiệp Đông Lai – Thanh Hối: 28,0 ha.

b) Đất khai thác khoáng sản:

 

Tổng nhu cầu đất cho khai thác khoáng sản trong kỳ quy hoạch tăng khoảng 39,6 ha (chủ yếu khai thác quặng và than bùn). Trong đó:- Khai thác Quặng ở xã Tuân Lộ: 36,8 ha.

- Khai thác Quặng ở xã Do Nhân: 1,5 ha.

- Khai thác Than ở Lỗ Sơn: 1,3 ha (điểm khai thác này khoanh vùng 29,3 ha tuy nhiên dự kiến trong chuyển mục đích 1,3 ha).

c) Đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ:

Từ nay đến năm 2020, nhu cầu đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ của huyện tăng thêm khoảng 33,87 ha. Trong đó tập trung tại các địa điểm sau:

- Xây dựng nhà máy Tuynel và vùng nguyên liệu nhà máy Tuynel tại Xã Phong Phú: 7,54 ha;

- Khai thác đá tại xã Gia Mô: 5,0 ha.

- Khai thác đá tại xã Quy Hậu: 8,33 ha.

- Khai thác đất tại xã Tuân Lộ: 6,0 ha.

- Khai thác đá tại xã Tử Nê: 7,0 ha.

2.2.3. Ngành Thương mại - Dịch vụ

                a) Đất thương, mại dịch vụ

                Nhu cầu đất thương mại, dịch vụ trong kỳ quy hoạch tăng thêm 187,19ha nhằm mục đích xây dựng các cửa hàng, khu điều hành, dịch vụ phục vụ cho các điểm du lịch sinh thái trên địa bàn huyện cụ thể như sau:

                - Cửa hàng Viễn thông Viettel Thị trấn Mường Khến 0.2 ha;

                - Xã phú Cường 25,3 ha (khu dịch vụ phục vụ điểm du lịch sinh thái Cát Tường Thiên 25,0ha (khoanh vùng 56 ha); khu dịch vụ phụ vụ điểm du lịch sinh thái Gia Ngân 3,0(khoanh vùng 59 ha)).

                - Xã Mỹ Hòa 0,3 ha để xây dựng trung tâm thương mại;

                - Xã Ngòi Hoa 128,69 ha (khu dịch vụ phục vụ điểm du lịch sinh thái Lòng hồ Hòa Bình 30,2 ha (khoanh vùng 304,9 ha), khu dịch vụ phục vụ điểm du lịch sinh thái V’star 6,0ha (khoanh vùng 163,31ha), khu dịch vụ phục vụ điểm du lịch văn hóa cộng đồng dân tộc Mường 79,49 ha (khoanh vùng du lịch 237,05 ha), điểm dịch vụ phục vụ khu du lịch sinh thái Ngòi Hoa – Công ty Hoàng Sơn 6ha (khoanh vùng 153,6 ha), điểm phục vụ điểm du lịch sinh thái Ngòi Hoa – Công ty HOSHI 5ha (khoanh vùng 83 ha) và điểm du lịch xóm Ngòi 2,0 ha)).

                - Xã Quyết Chiến 30ha để xây dựng khu điều hành, dịch vụ phục vụ điểm du lịch sinh thái Thung Mây (khoanh vùng 198 ha).

                - Ngoài ra trên địa bàn xã Ngổ Luông dự kiến khoanh vùng 25ha làm điểm du lịch sinh thái cáp treo, bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông và 20 ha khu du lịch động Nam Sơn (diện tích này không đưa vào chuyển đổi mục đích sử dụng).

                b) Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp

                Nhu cầu cho mục đích xây dựng các sở sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp đến năm 2020 của huyện cần thêm 13,39 ha cụ thể như sau:

                - Thị trấn Mường Khến: 0,13 ha xây dựng công ty TNHH 195.

                - Xã Phong Phú: 4,17 ha (nhà máy may Hồ Gươm 4,0 ha; Công ty trách nhiệm hữu hạn Hải Ngân 0,17 ha);

                - Xã Mãn Đức: 0,79 ha (Công ty TNHH Tuấn Dương 0,19 ha; Khu SXKD xóm Định 0,3 ha; khu SXKD trước bệnh viện 0,3 ha);

                - Xã Lũng Vân: 0,1 ha làm khu san lấp mặt bằng đồi Chè;

                - Xã Quy Mỹ: 3,5 ha (khu SXKD Đồng Muông);

                - Xã Lỗ Sơn: 3,7 ha (trạm cấp nước sạch 0,2 ha; khu chế biến lâm sản bãi Đoong Xa 3,5ha);

                c) Đất chợ

                Trong kỳ cần thêm 3,05 ha để xây dựng chợ của các xã Quy Hậu 0,5 ha, Quyết Chiến 0,15 ha, Địch Giáo 0,2 ha, Bắc Sơn 0,4 ha, Quy Mỹ 0,3 ha, Lỗ Sơn 0,5 ha và Gia Mô 0,1 ha.

2.2.4. Lĩnh vực văn hoá - xã hội

a) Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp:

                Nhu cầu đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp trong kỳ quy hoạch là 5,52 ha. Trong đó:

- Mở rộng huyện ủy, UBND huyện: 0,2 ha;

- Trụ sở bảo hiểm xã hội huyện: 0,3 ha;

- Xây dựng Chi cục thuế: 0,4 ha;

- Xây dựng trụ sở CQ Trị trấn Mường Khến : 0,6 ha;

- Cơ quan thi hành án: 0,2 ha

- Phòng thống kê: 0,2 ha

- Xây dựng trụ sở CQ tại khu dân cư mới: 0,62 ha;

- Xây mới trụ sở UBND xã Quy Hậu: 0,5 ha;

- Xây mới trụ sở UBND xã Ngọc Mỹ: 0,55 ha;

- Mở rộng trụ sở UBND xã và xây dựng trụ sở HTX nông nghiệp xã Đông Lai: 0,45 ha

- Mở rộng UBND xã Ngòi Hoa: 0,05 ha;

- Mở rộng trụ sở UBND xã Mãn Đức: 0,5 ha;

- Mở rộng trụ sở UBND xã Bắc Sơn: 0,2 ha.

- Mở rộng trụ sở UBND xã Tử Nê: 0,75 ha

b) Đất xây dựng trường học :

                Tổng nhu cầu đất xây dựng trường học trên địa bàn huyện từ nay đến năm 2020 là 8,93 ha, cụ thể như sau:

                - Thị trấn Mường Khến: 0,15 ha để mở rộng trường tiểu học thị trấn;

                - Xã Ngòi Hoa: 0,7 ha để mở rộng trường THCS 0,5 ha và mở rộng trường mầm non xóm Ngòi 0,2 ha;

                - Xã Trung Hòa: 0,8 ha để xây mới điểm trường mầm non xóm Đạy 0,4 ha và mở rộng trường tiểu học xóm Ong 0,4 ha;

                - Xã Phú Vinh: 0,14 ha để mở rộng trường mầm non xóm Ngàu;

                - Xã Phú Cường: 1,36 ha để mở rộng trường THCS xã Phú Cường 0,36 ha và xây mới trường mầm non khu xóm Khởi 1,0 ha;

                - Xã Mỹ Hòa: 0,2 ha để mở rộng trường THCS xóm Đon;

                - Xã Quyết Chiến: 0,15 ha để mở rộng trường mầm non xóm Trung Hưng;

                - Xã Mãn Đức: 1,8 ha để mở rộng trường THPT Tân Lạc 0,8 ha, mở rộng trường mầm non, tiểu học xóm Bùi, xóm Phoi 0,5 ha và mở rộng trường mầm non xóm Định 0,5 ha;

                - Xã Địch Giáo: 0,07 ha để mở rộng trường THCS;

                - Xã Đông Lai: 1,31 ha để mở rộng trường THPT Đoàn Kết 0,16 ha, mở rộng điểm trường mầm non xóm Cóm 0,7 ha, xây mới điểm trường mầm non, tiểu học xóm Vạch 0,25 ha, xây mới điểm trường mâm non xóm Chếch 0,2 ha;

                - Xã Lũng Vân: 0,45 ha để mở rộng trường tiểu học trung tâm xã 0,15 ha và mở rộng trường mầm non 0,3 ha;

                - Xã Bắc Sơn: 0,4 ha để mở rộng trường tiểu học Bắc Sơn;

                - Xã Quy Mỹ: 0,1 ha để mở rộng trường mầm non xã;

                - Xã Gia Mô: 1,05 ha để mở rộng trường Trung học cơ sở 0,56 ha và xây mới điểm trường mầm non 0,49 ha.

c) Đất cơ sở y tế:

                Tổng nhu cầu đất cho việc hoàn thiện các cơ sở y tế trên địa bàn huyện trong kỳ quy hoạch 2016 - 2020 là 0,77 ha. Trong đó:

- Mở rộng trạm y tế xã Ngòi Hoa: 0,05 ha;

- Mở rộng trạm y tế xã Do Nhân: 0,22 ha;

- Xây mới trạm y xã Quy Mỹ: 0,16 ha;

- Xây mới trạm y tế xã Gia Mô: 0,34 ha.

d) Đất văn hóa

                Để phấn đấu có trên 80% khu dân cư văn hóa, 100% cơ quan, trường học văn hóa và 83% hộ gia đình văn hóa. Tập trung xây dựng các điểm văn hóa như quảng trường, đài tưởng niệm... nhu cầu đất văn hóa trong kỳ quy hoạch 2016-2020 cần 3,68 ha để xây dựng các hạng mục công trình sau:

                - Quảng trường, tượng đài, khu văn hóa thị trấn Mường Khến: 2,16 ha;

                - Xây dựng nhà Bia tưởng niệm xã Phú Vinh: 0,08 ha;

                - Xây dựng Đài tưởng niệm xã Mãn Đức: 0,05 ha;

                - Xây dựng Đài tưởng niệm xã Thanh Hối: 0,05 ha;

                - Xây dựng nhà Bia tưởng niệm xã Đông Lai: 0,05 ha; 

                - Xây dựng Đài tưởng niệm xã Do Nhân: 0,3 ha;

                - Xây dựng nhà Bia tưởng niệm xã Phong Phú: 0,12 ha;

                - Xây dựng nhà Bia tưởng niệm xã Tử Nê: 0,86 ha.

e) Đất sinh hoạt cộng đồng

Để đến năm 2020 trên địa bàn huyện 100% số xã có nhà văn hoá xã và 85% thôn, bản có nhà văn hóa sinh hoạt cộng đồng thì nhu cầu đất để xây dựng nhà sinh hoạt cộng đồng của huyện cần khoảng 8,18 ha, cụ thể như sau:

                - Thị trấn Mường Khến: 0,13 ha để xây dựng trung tâm học tập cộng đồng 0,1 ha và xây dựng nhà văn hóa khu Bốn 0,03 ha;

                - Xã Ngòi Hoa: 0,1 ha để xây dựng trung tâm học tập cộng đồng;

                - Xã Trung Hòa: 0,25 ha để xây dựng mới NVH xã và trung tâm học tập cộng đồng xã;

                - Xã Phú Vinh: 0,81 ha để xây dựng mới NVH xã 0,25 ha, trung tâm học tập cộng đồng xã 0,26 ha và xây mới các NVH xóm Lào, xóm Bò, xóm Tớn, xóm Đung Hải, xóm Thủa, xóm Giác 0,3 ha;

                - Xã Phú Cường: 0,25 ha để xây mới trung tâm văn hóa xã;

                - Xã Mỹ Hòa: 0,55 ha để xây mới trung tâm văn hóa xã 0,25 ha và xây mới NVH các xóm Chùa Bụa 0,15 ha, xóm Ngay 0,15 ha;

                - Xã Quy Hậu: 1,6 ha để xây mới trung tâm văn hóa xã 0,25 ha, mở rộng các NVH xóm Bày, xóm Khang 1, xóm Khang 2, xóm Bậy, xóm Bưng, xóm Dom, xóm Hồng Dương, xóm Tân Thanh, xóm Tân Phương, xóm Tân An 1,35 ha;

                - Xã Quyết Chiến: 0,06 ha để xây dựng mới NVH xóm Khao;

                - Xã Mãn Đức: 0,03 ha để xây dựng mới NVH thôn Tân Phong;

                - Xã Tuân Lộ: 0,27 ha để xây dựng mới NVH, trung tâm học tập cộng đồng xã 0,12 ha; xây dựng mới NVH các xóm Hồng, xóm Thọng, xóm Thịnh 0,15 ha;

                - Xã Tử Nê: 0,1 ha để xây dựng mới NVH xóm 2;

                - Xã Thanh Hối: 1,15 ha để xây dựng mới trung tâm văn hóa xã 0,25 ha và xây dựng mới NVH các thôn Tam 1, thôn Tam 2, thôn Đông 1, thôn Sen 2, thôn Sung 1, thôn Sung 2, thôn Tân Hưng 2 và xóm Cụ 0,9 ha;

                - Xã Đông Lai: 0,48 ha để xây mới trung tâm văn hóa xã 0,25 ha và xây mới NVH xóm Quê Bái 2 và xóm Chông 0,23 ha;

                - Xã Lũng Vân: 0,79 ha để xây mới trung tâm văn hóa xã 0,2 ha và xây mới NVH các xóm Hợp 1, Hợp 2, Ghẹ 2, Bục, Lở 1, Bánh 1, Bánh 2, Chiềng 0,59 ha;

                - Xã Bắc Sơn: 0,5 ha để xây mới NVH các xóm Hày Dưới, Hày Trên, Hò Dưới, Hò Trên và xóm Mý;

                - Xã Do Nhân: 0,45 ha để xây mới trung tâm văn hóa xã 0,25 ha, xây mới NVH xóm Sống và xóm Thung Vòng 0,1 ha, NVH xóm Tả 0,1 ha;

                - Xã Nam Sơn: 0,15 ha để xây mới trung tâm văn hóa xã 0,1 ha và xây mới NVH xóm Bương 0,05 ha;

                - Xã Lỗ Sơn: 0,33 ha để xây dựng mới NVH xã và trung tâm học tập cộng đồng xã;                             

- Xã Gia Mô: 0,25 ha để xây mới trung tâm văn hóa xã.

                f) Đất công trình bưu chính viễn thông

                Trong kỳ quy hoạch nhu cầu cần 0,06 ha dể xây dựng điểm bưu điện văn hóa xã Mỹ Hòa (0,02 ha) xã Bắc Sơn (0,02 ha) và xã Quyết Chiến (0,02ha).

g) Đất có di tích lịch sử văn hóa

Nhu cầu giai đoạn 2016-2020 đất di tích lịch sử văn hóa cần thêm 13,04 ha để:

- Xây dựng khu văn hóa tâm linh Hang Bụt 4,5 ha, hang động Mường Chiềng 0,6 ha và thành hoàng làng 0,04ha tại thị trấn Mường Khến;

- Xây dựng khu quần thể di tích lịch sử văn hóa Mường Bi tại xã Phong Phú 6,5 ha.

- Khu di tích lịch sử văn hóa Núi cột cờ Mường Bi xã Tuân Lộ diện tích 0,8 ha.

- Khu di tích lịch sử văn hóa chừ Kè xã Phú Vinh 0,6 ha.

h) Đất danh thắng

-Từ nay đến năm 2020 huyện dự kiến  xây dựng hồ sơ khoa học để công nhận khu danh thắng hang núi Kiến xã Lũng Vân với diện tích 25 ha và điểm danh thắng thác Trăng xã Do Nhân 4,0ha.

i) Đất vui chơi, giải trí công cộng

Nhằm nâng cao tinh thần đời sống văn hóa cho người dân, giai đoạn tới dự kiến sẽ xây dựng các điểm vui chơi giải trí trên địa bàn huyện với nhu cầu diện tích đất cần 6,42 ha. Trong đó

- Khu cây xanh ven suối phía Nam thị trấn Mường Khến: 1,3 ha;

- Khu cây xanh, đất công cộng tại điểm dân cư mới trị trấn Mường Khến: 2,89 ha.

- Công viên cây xanh xã Tử Nê: 0,63 ha;

- Khu vui chơi giải trí xã Đông Lai: 1,0 ha;

- Khu vui chơi giải trí xã Do Nhân: 0,42 ha.

j) Đất xây dựng cơ sở thể dục thể thao

Để đến năm 2020 hoàn thiện khu trung tâm thể thao huyện và 100% số xã có sân vận động xã, 50% số thôn, bản có sân luyện tập thể dục thể thao như quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của huyện đề ra. Trong kỳ quy hoạch, từ nay đến năm 2020, nhu cầu đất cho xây dựng cơ sở thể dục, thể thao của huyện cần khoảng 13,43 ha. Trong đó:

- Xây dựng mới sân thể thao huyện: 1,05 ha;

- Xây dựng mới 10 khu thể thao của các xã: 7,25 ha;

                + Xã Phú Vinh: 0,3 ha;

                + Xã Phú Cường: 0,8 ha;

                + Xã Mỹ Hòa: 0,8 ha;

                + Xã Quy Hậu: 1,0 ha;

                + Xã Địch Giáo: 1,2 ha;

                                + Xã Tuân Lộ: 0,8 ha;

                                + Xã Lũng Vân: 0,5 ha;

                                + Xã Bắc Sơn: 1,0 ha;

                                + Xã Do Nhân: 0,25 ha;

                                + Xã Gia Mô: 0,6 ha;

- Mở rộng sân thể thao 2 xã: 1,2 ha

                + Xã Ngòi Hoa: 0,5 ha;

                + Xã Quy Hậu: 0,7 ha.

- Xây mới 15 khu thể thao các thôn: 3,93 ha.

k) Đất tôn giáo: trong kỳ cần 0,04 ha để xây dựng điểm chùa Lim Sơn tại thị trấn Mường Khến.

m) Đất tín ngưỡng: trong kỳ cần 0,25 ha để:

- Xây dựng điểm Miếu xóm Ngòi (0,05ha) và điểm Miếu xóm Nẻ (0,05 ha) xã Ngòi Hoa;

-  Xây dựng điểm tín ngưỡng xóm Tam 1, Tam 2 xã Thanh Hối (0,15 ha).

n) Đất bãi thải, xử lý chất thải:

Nhu cầu đất xử lý và chôn lấp chất thải nguy hại từ nay đến năm 2020 trên địa bàn huyện là 11,02 ha. Trong đó:

- Mở mới 12 điểm chôn lấp chất thải tại địa bàn các xã: 7,14 ha.

                + Điểm chôn lấp chất thải xã Ngòi Hoa: 1,0 ha;

                + Điểm chôn lấp chất thải xã Trung Hòa: 0,5 ha;

                + Điểm chôn lấp chất thải xã Quy Hậu: 0,5 ha;

                + Hai điểm chôn lấp chất thải xã Mãn Đức: 0,8 ha;

                + Điểm chôn lấp chất thải xã Tuân Lộ: 0,5ha

                + Điểm chôn lấp chất thải xã Thanh Hối: 0,5 ha;

                + Điểm chôn lấp chất thải xã Lũng Vân: 0,3 ha;

                + Điểm chôn lấp chất thải xã Bắc Sơn: 0,8 ha;

                + Điểm chôn lấp chất thải xã Do Nhân: 0,3 ha;

                + Điểm chôn lấp chất thải xã Lỗ Sơn: 0,94 ha;

                + Điểm chôn lấp chất thải xã Gia Mô: 1,0 ha.

- Xây dựng 23 điểm trung chuyển rác tại các thôn: 3,88 ha.

n) Đất nghĩa trang, nghĩa địa

Nhu cầu đất để mở rộng và xây dựng mới nghĩa trang nhân dân ở các xã trên địa bàn huyện trong kỳ quy hoạch cần 10,93 ha. Trong đó:

- Mở mới 3 nghĩa trang nhân dân: 6,2 ha (nghĩa trang thị trấn Mường Khến tại xã Quy Hậu 4,0 ha; nghĩa trang xã Phong Phú 2,0 ha; nghĩa trang xã Bắc Sơn 0,2 ha);

- Mở rộng 7 nghĩa trang nhân dân: 4,73 ha (xã Ngòi Hoa 2,5 ha; xã Thanh Hối 1,2 ha; xã Tuân Lộ 0,2 ha; xã Do Nhân 0,2 ha, xã Quyết Thắng 0,2 ha, xã Đông Lai 0,43 ha).

2.2.5. Nhu cầu đất an ninh quốc phòng

a) Đất quốc phòng:

Theo đề nghị của Ban chỉ huy quân sự tỉnh và huyện thì nhu cầu đất quốc phòng trên địa bàn huyện trong kỳ quy hoạch tăng thêm 163,44 ha. Trong đó:

- Xây dựng bệnh viện 354 A (xã Quy Hậu): 15 ha;

- Xây dựng bệnh viện động viên (xã Ngọc Mỹ): 20 ha;

- Kho xăng và kho tổng hợp (xã Thanh Hối): 40 ha;

- Trận địa đánh địch đổ bộ đường không (xã Đông Lai): 15,0 ha;

- Trận địa pháo và súng máy phòng không: 28,0 ha tại các xã Quy Hậu (5,1 ha), Mãn Đức (7,9 ha), Địch Giáo (6,5 ha), Thanh Hối (6,0 ha) và Ngổ Luông (2,5 ha);

- Căn cứ hậu cần tại xã Trung Hòa: 8,26 ha;

- Riêng điểm căn cứ chiến đấu xã Do Nhân khoanh vùng 120 ha và căn cứ hậu phương khoanh vùng 90 ha không chuyển đổi mục đích sử dụng.

- Thao trường, bãi bắn, bãi tập: 37,18 ha tại các xã Ngòi Hoa (3,0 ha), Trung Hòa (2,8 ha), Phú Vinh (0,5 ha), Phú Cường (2,0 ha), Mỹ Hòa (1,5 ha), Quy Hậu (5,98 ha), Phong Phú (1,15 ha), Quyết Chiến (0,5 ha), Mãn Đức (2,0 ha), Địch Giáo (2,0 ha), Tuân Lộ (1,7 ha), Tử Nê (0,5 ha), Thanh Hối (0,5 ha), Ngọc Mỹ (2,0 ha), Đông Lai (0,8 ha), Lũng Vân (1,0 ha), Bắc Sơn (2,5 ha), Do Nhân (0,8 ha), Nam Sơn (1,0 ha), Lỗ Sơn (0,5 ha), Ngổ Luông (0,15 ha), Gia Mô (1,5 ha), Quy Mỹ (1,3 ha).

b) Đất an ninh:

                Nhu cầu đất an ninh trong kỳ quy hoạch cần bố trí thêm 2,9 ha. Trong đó:

- Mở rộng trụ sở công an huyện: 0,1 ha;

- Đồn công an các xã vùng cao: 0,5 ha;

- Trụ sở ban an ninh các xã, thị trấn: 2,3 ha.

2.2.6. Nhu cầu đất xây dựng khác

a) Đất giao thông

                Giai đoạn 2011 - 2020 nhu cầu sử dụng thêm 178,33 ha đất để mở rộng, nâng cấp và xây dựng hệ thống giao thông trên địa bàn huyện như sau:

                - Nâng cấp mở rộng QL 6: 13,77 ha;         

- Nâng cấp mở rộng QL 12B: 6,82 ha;

- Mở rộng tỉnh lộ 435: 24,45 ha;

- Mở rộng và nâng cấp tỉnh lộ 436: 6,87 ha;

                - Mở rộng và nâng cấp tỉnh lộ 440: 8,94 ha;          

                - Xây dựng công trình Cầu: 0,7 ha;

                - Bến, bãi đỗ xe: 1,57 ha;

                - Mở mới các tuyến giao thông nông thôn, giao thông nội động tại các xã, thị trấn: 81,92 ha;

                - Mở rộng các tuyến giao thông nông thôn, giao thông nội động tại các xã, thị trấn: 33,29 ha;

b) Đất thuỷ lợi:

                Tổng hợp nhu cầu đất để xây dựng, nâng cấp các hồ đập, trạm bơm và xây dựng hệ thống kênh mương nội đồng nhằm đáp ứng tưới tiêu chủ động từ các xã cho thấy trong kỳ quy hoạch toàn huyện cần sử dụng khoảng 38,03 ha. Trong đó:

 

Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 - huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.

Link dowload toàn bộ tài liệu: https://drive.google.com/open?id=10TLep_Iu5gm8LefSdXdZx81CiIgDsPxI

 

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Quá trình khai thác sử dụng đất đai luôn gắn liền với quá trình phát triển xã hội. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu sử dụng đất càng cao, trong khi đó đất đai lại có hạn, chính vì vậy việc sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bền vững luôn là nhu cầu cấp thiết, đòi hỏi phải hoạch định cụ thể và khoa học.

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định tại Khoản 1 Điều 54 “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật”.

Luật Đất đai năm 2013 tại Điều 22 Khoản 4 quy định "Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một trong những nội dung quản lý Nhà nước về đất đai" và tại Điều 45 Khoản 3 quy định "Ủy ban nhân dân cấp huyện trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của cấp huyện".

Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất có vai trò rất quan trọng trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, trong sự phát triển hài hòa, cân đối của từng địa phương và của đất nước theo nền kinh tế thị trường. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là cơ sở để Nhà nước quản lý thống nhất toàn bộ đất đai theo hiến pháp và pháp luật, đảm bảo đất đai được sử dụng tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả cao nhất.

                                Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được quy định từ Điều 7 đến Điều 12 tại Nghị Định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ và Thông Tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/06/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn Quy trình điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và lập kế hoạch sử dụng đất năm đầu của điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất cấp huyện tại Chương III - Mục 2 (Điều 59; 60, 61; 62; 63; 64).

                                Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) huyện Tân Lạc đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình phê duyệt vào ngày 15 tháng 11 năm 2013 theo Quyết định số 2779/QĐ-UBND.

                Trên cơ sở quy hoạch đã phê duyệt, Ủy ban Nhân dân huyện đã chỉ đạo các ngành, các cấp của huyện tiến hành lập kế hoạch hàng năm và tổ chức thực hiện những nội dung cơ bản trong phương án quy hoạch sử dụng đất đã đề ra và đã đạt được một số kết quả khả quan về quản lý, khai thác tài nguyên đất hiệu quả và bền vững. Tuy nhiên, việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giữa các ngành chưa được tiến hành đồng bộ, hiệu quả chưa cao. Việc bố trí vốn để thực hiện các công trình, dự án có sử dụng đất chưa đảm bảo đúng tiến bộ theo kế hoạch đã được duyệt. Một số phương án quy hoạch chưa được dự báo sát với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội, chưa lường hết những khó khăn trong quá trình thi công, giải phóng mặt bằng, vốn đầu tư dẫn đến quy hoạch treo không thực hiện được.

Thực tế phát sinh nhu cầu sử dụng đất và sự điều chỉnh phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện từ nay đến năm 2020 đòi hỏi phải rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sử dụng đất cho phù hợp với tình hình mới. Được sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình, cùng với sự giúp đỡ, phối hợp của Sở Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân huyện Tân Lạc tổ chức triển khai lập “Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình”. 

I. MỤC TIÊU, YÊU CẦU ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH

                1. Mục tiêu

- Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của huyện đến năm 2020 và lập kế hoạch sử dụng đất năm 2016 nhằm phát huy tốt nguồn lực đất đai, nâng cao hiệu quả sử dụng đất, bảo đảm phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội mà nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2020 đề ra.

                - Điều chỉnh một số chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất của huyện đến năm 2020 đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Hòa Bình phê duyệt tại Quyết định số 2779/QĐ-UBND, ngày 15 tháng 11 năm 2013 cho phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện thời kỳ 2016- 2020 và quy hoạch sử dụng đất cả tỉnh giai đoạn 2016-2020.

                - Làm cơ sở cho các cấp, các ngành quản lý sử dụng đất đai và  thực hiện việc giao đất, thu hồi đất, cho thuê đất và chuyển đổi mục đích sử dụng đất trên địa bàn huyện theo đúng Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ .

2. Yên cầu

                Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất của huyện Tân Lạc đến năm 2020 phải đạt các yêu cầu sau đây:

- Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của huyện giai đoạn 2011-2015 đã được phê duyệt. Làm rõ những vướng mắc, khó khăn, bất cập trong việc lập, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để thực hiện điều chỉnh trong giai đoạn 2016-2020.

                - Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất phải trên cơ sở phân bổ sử dụng đất của tỉnh trên địa bàn; xác định đầy đủ nhu cầu sử dụng đất của các ngành, đảm bảo bố trí, phân bổ quỹ đất hợp lý, đáp ứng tốt nhất nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn 2016-2020.

                - Điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 phải nêu được cụ thể về quy mô, địa bàn các loại đất cần điều chỉnh so với quy hoạch đã được duyệt và lý do điều chỉnh.

II. BỐ CỤC CỦA BÁO CÁO

                Báo cáo Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất năm 2016 huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình được nghiên cứu xây dựng theo Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 của Bộ Tài Nguyên và Môi trường. Báo cáo thuyết minh tổng hợp bao gồm các phần sau:

                - Đặt vấn đề

- Phần I: Sự cần thiết điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất;

                - Phần II: Phương án điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất;

                - Phần III: Kế hoạch sử dụng đất năm 2016           

                - Phần IV: Giải pháp thực hiện

                - Kết luận và kiến nghị

III. SẢN PHẨM 

                - Báo cáo thuyết minh tổng hợp điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình;

                - Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2015 của huyện Tân Lạc, tỷ lệ 1/25.000;

                - Bản đồ điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của huyện Tân Lạc, tỷ lệ 1/25.000;

- Đĩa CD ghi dữ liệu báo cáo, bản đồ.

Phần I

SỰ CẦN THIẾT ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

I. CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

Việc lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất năm 2016 của huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình được dựa trên những căn cứ sau:

                1. Căn cứ pháp lý lập điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của huyện

- Luật Đất đai năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

                - Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 3 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ về thị hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng;

- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai;

- Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ Quy định về thu tiền sử dụng đất;

- Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước;

- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

                - Nghị định số 35/2015/NĐ-CP ngày 13 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa;

                - Nghị quyết số 43/NQ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ về quy hoạch quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) tỉnh Hòa Bình;

- Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 06 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

- Quyết định số 917/QĐ-TTg ngày 11 tháng 6 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hòa Bình đến năm 2020;

- Quyết định số 1314/QĐ-UBND ngày 25 tháng 9 năm 2012 của UBND tỉnh Hòa Bình phê duyệt đồ án Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Hòa Bình đến năm 2020;

- Quyết định số 439/QĐ-UBND ngày 16 tháng 4 năm 2013 của UBND tỉnh Hòa Bình phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển giao thông vận tải tỉnh Hòa Bình đến năm 2020, định hướng đến năm 2030;

- Quyết định số 2779/QĐ-UBND ngày 15 tháng 11 năm 2013 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011-2015) huyện Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình.

- Nghị Quyết số 127/NQ-HĐND ngày 03 tháng 12 năm 2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh Hòa Bình về việc thông qua danh mục các dự án cần thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất năm 2016;

- Quyết định số 2599/QĐ-UBND ngày 03 tháng 12 năm 2015 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc Phê duyệt Kế hoạch đầu tư công năm 2016;

- Quyết định số 1800/QĐ-UBND ngày 20-9-2017 của UBND tỉnh về việc phê duyệt chi tiết nhiệm vụ mô hình thí điểm tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

- Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện Tân Lạc giai đoạn 2011 – 2020;

- Quy hoạch phát triển các ngành kinh tế trên địa bàn huyện;

- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới các xã của huyện Tân Lạc;

- Văn số 979/UBND-CNXD ngày 24-7-2017 của UBND tỉnh về việc thực hiện các quy định về xác định giới hạn và cắm mốc giới hạn đất danh cho đường bộ đối với các dự án xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo.

                - Văn bản số 160/VPUBND ngày 20-9-2017 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc thực hiện kiến nghị, đề xuất của Ban Dân vận Tỉnh ủy về công tác tôn giáo.               - Kế hoạch số 124/KH-UBND ngày 30-8-2017 của UBND tỉnh về việc thực hiện Đề án phát triển thể dục, thể thao tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2030.

                - Văn bản số 1510/UBND-NNTN ngày 24 tháng 10 năm 2017 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc phân bổ chi tiêu sử dụng đất cấp tỉnh (tạm thời).

2. Cơ sở thông tin số liệu, tư liệu bản đồ

- Số liệu kiểm kê đất đai năm 2014 của huyện Tân Lạc;

- Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 của huyện Tân Lạc và bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2014 các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Tân Lạc;

- Bản đồ đo đạc địa chính chính quy các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Tân Lạc;

- Báo cáo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2011 – 2015 của huyện Tân Lạc;

- Niên giám thống kê tỉnh Hòa Bình năm 2014;

- Báo cáo tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 của huyện Tân Lạc;

- Báo cáo tổng kết 05 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015;

- Các tài liệu khác có liên quan.

II. PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ BỔ SUNG ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG ĐẤT

1. Phân tích, đánh giá bổ sung điều kiện tự nhiên, các nguồn tài nguyên và thực trạng môi trường

1.1. Điều kiện tự nhiên

1.1.1. Vị trí địa lý

Tân Lạc là một huyện miền núi, có vị trí chiến lược quan trọng, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Hòa Bình, nơi có những đầu mối giao thông chủ yếu, là cửa ngõ ra vào vùng Tây Bắc của Tổ quốc và nối liền với Thủ đô Hà Nội.

Huyện Tân Lạc cách thành phố Hoà Bình khoảng 30 km, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội khoảng 110 km. Tọa độ địa lý ở vào khoảng 20027’35” – 20035’95” vĩ độ Bắc, 10506’25”-105023’23” kinh độ Đông.

                - Phía Bắc giáp huyện Đà Bắc.

                - Phía Nam giáp huyện Lạc Sơn.

                - Phía Đông giáp huyện Cao Phong.

                - Phía Tây giáp huyện Mai Châu và huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.

1.1.2. Địa hình, địa mạo

Địa hình Tân Lạc khá phức tạp, có dãy Trường Sơn chạy dọc theo chiều dài của huyện, đất đai bị chia cắt bởi hệ thống suối, đồi núi và thấp dần về hướng Đông Nam. Địa hình Tân Lạc được chia thành 3 vùng rõ rệt:

- Vùng cao gồm các xã nằm trên dải Trường Sơn chạy dọc phần phía Tây của huyện (Nam Sơn, Bắc Sơn, Quyết Chiến, Lũng Vân, Ngổ Luông), có độ cao trung bình từ 600 đến 800 mét. Vùng này có nhiều núi trùng điệp cao thấp bám sát nhau, xen kẽ là những thung lũng nhỏ hẹp, có đỉnh núi Thạch Bi cao 1.108m, núi Toàn Thắng cao 1.105m.

- Vùng giữa gồm các xã nằm dọc phía Đông dãy Trường Sơn: Ngòi Hoa, Trung Hoà, Phú Vinh, Phú Cường. Vùng này có độ cao trung bình từ 200 đến 300 mét với nhiều đồi núi, khe suối, xen vào đó là các bãi bằng hẹp nằm rải rác.

                                - Vùng thấp gồm 14 xã hạ huyện và thị trấn Mường Khến nằm dọc theo Quốc lộ 12B và tỉnh lộ 436. Độ cao trung bình 150 - 200m, với 2 thung lũng nhỏ hẹp chạy dọc theo 2 hệ thống suối chính (suối Chù và suối Cái) tạo thành 2 cánh đồng lúa chủ yếu của huyện.

1.1.3. Khí hậu

                                Do nằm trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, nên khí hậu ở Tân Lạc mang tính chất khí hậu nhiệt đới gió mùa trong năm, phân thành 2 mùa khá rõ, mùa mưa nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô mát lạnh từ tháng 11 đến tháng 4.

                                - Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm 22,90C, nhiệt độ trung bình cao nhất 28,10C, nhiệt độ trung bình thấp nhất 20,40C, nhiệt độ tuyệt đối cao nhất 390C, nhiệt độ tuyệt đối thấp nhất 6,60C. Nhiệt độ cao nhất trong năm thường từ tháng 6 đến tháng 9, nhiệt độ thấp nhất trong năm thường từ tháng 1 đến tháng 2. Nhiệt độ giữa các vùng có sự khác nhau, ở vùng cao nhiệt độ các tháng lạnh nhất thấp hơn vùng thấp từ 2-30C và mùa đông đến sớm, kết thúc muộn.

                                - Lượng mưa: trung bình hàng năm cao (2.000 mm), mưa tập trung vào các tháng từ tháng 6 đến tháng 9. Mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 15% lượng mưa cả năm. Các xã vùng cao, vùng thượng có lượng mưa cao hơn vùng thấp.

                                - Độ ẩm không khí: bình quân 81,6%, độ ẩm cao nhất 89,0%, độ ẩm thấp nhất 78%. Độ ẩm thường cao vào những tháng cuối xuân đầu hè.

                                - Các hiện tượng thời tiết khác: Sương mù thường xuất hiện vào tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Sương muối trung bình có từ 5 - 7 ngày, thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1.

                                - Số giờ nắng: Tháng nắng nhất trong năm là tháng 7 (239,5 giờ), tháng ít nắng nhất là tháng 3 (94,5 giờ).

Với đặc điểm khí hậu của huyện như trên, cho phép trên địa bàn huyện có thể phát triển nền sản xuất nông nghiệp đa dạng, bố trí nhiều vụ cây trồng trong năm. Tuy nhiên, để phát huy lợi thế so sánh về điều kiện khí hậu ở từng khu vực địa hình trên địa bàn huyện, cần xác định cơ cấu sản xuất hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và mức sống của nhân dân.

1.2. Các nguồn tài nguyên

1.2.1. Tài nguyên đất

                                Do sự chi phối của địa hình, sự tác động tổng hợp của các điều kiện tự nhiên và quá trình khai thác sử dụng đất của cộng đồng dân cư, nên trên địa bàn huyện Tân Lạc có các nhóm đất chính sau đây:

                                - Đất phù sa: Diện tích khoảng 362,2 ha, chiếm 0,68% diện tích tự nhiên toàn huyện, với 3 loại đất là đất phù sa không được bồi (144,4 ha), đất phù sa glây (149 ha) và đất phù sa ngòi suối (68,8 ha). Nhóm đất này phân bố dọc theo các con suối lớn, tạo nên những cánh đồng tương đối màu mỡ và được sử dụng để trồng lúa, hoa màu lương thực.

                                - Đất nâu đỏ trên đá macma bazơ và trung tính: Diện tích 9.078,4 ha, chiếm 17,10% diện tích tự nhiên. Có thể nói đây là loại đất tốt của huyện về mặt tính chất đất cho cây trồng, tuy nhiên do có độ dốc lớn nên khó khăn cho việc canh tác, sản xuất nông lâm nghiệp.

                                - Đất nâu đỏ trên đá phiến sét: Diện tích 11.319,5 ha, chiếm 21,32% diện tích tự nhiên, là loại đất có diện tích lớn nhất trong huyện, phân bố ở hầu hết các xã trong huyện thích hợp trồng cây lâu năm như cây công nghiệp, cây ăn quả và phát triển lâm nghiệp.

                                - Đất nâu đỏ trên đá vôi: Diện tích 10.712,7 ha, chiếm 20,18% diện tích tự nhiên. Đa số các đất nâu đỏ trên đá vôi có kết cấu tốt, độ phì nhiêu tự nhiên tương đối cao. Yếu tố hạn chế lớn nhất đến sản xuất nông lâm nghiệp là độ dốc. Có thể bố trí trồng cây hoa màu, cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả (nhãn, vải, cam, chanh).

                                - Đất vàng đỏ trên đá mác ma axít: Diện tích 152,6 ha, chiếm 0,29% diện tích tự nhiên. Đất chua, thành phần dinh dưỡng trung bình đến nghèo. Hướng sử dụng chủ yếu là khoanh nuôi tái sinh rừng, ở những khu đồi đất thấp có thể sử dụng trồng cây ăn quả.

                                - Đất vàng nhạt trên đá cát: Diện tích 5.992,1 ha, chiếm 11,29% diện tích tự nhiên toàn huyện. Đây là loại đất có tầng mỏng, thành phần cơ giới nhẹ, nghèo dinh dưỡng, phân bố ở địa hình bị chia cắt mạnh. Nhóm đất này được sử dụng để phát triển lâm nghiệp và nông -  lâm kết hợp.

                                - Đất mùn nâu đỏ trên đá vôi: Diện tích 3.521,7 ha, chiếm 6,63% diện tích tự nhiên, là loại đất có độ dốc lớn. Nhóm đất này chủ yếu được sử dụng để khoanh nuôi, bảo vệ rừng kết hợp trồng các loại cây dược liệu ưa ẩm độ và nhiệt độ thấp.

                                - Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa: Diện tích là 2.807 ha, chiếm 5,29% diện tích tự nhiên. Đây là loại đất hình thành do canh tác lúa lâu đời đã làm biến đổi tính chất đất, là nhóm đất tương đối tốt, được sử dụng trồng lúa và hoa màu lương thực.

                                - Đất vàng đỏ trên đá phiến sét và đá biến chất: Diện tích 1.401,3 ha, chiếm 2,64% diện tích tự nhiên toàn huyện. Loại đất này được phân bố chủ yếu trên địa hình đồi núi cao, độ dốc lớn, nên được sử dụng để khoanh nuôi bảo vệ rừng.

                                - Đất dốc tụ: Diện tích 1.449,7 ha, chiếm 2,73% diện tích tự nhiên. Đây là loại đất hình thành từ các vật liệu không gắn kết, thích hợp với trồng cây hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày.

                                - Đất xói mòn trơ sỏi đá: Diện tích 3.275,7 ha chiếm 6,17% diện tích tự nhiên. Nhóm đất này thường có thảm thực vật thưa thớt, đang bị tác động mạnh của xói mòn và trơ sỏi đá trên bề mặt.

                                Như vậy do địa hình chia cắt phức tạp, núi non hiểm trở, độ dốc lớn (trung bình 30 - 35o) nên đất đai của huyện không đồng nhất. Các loại đất ở địa hình đồi núi (đất đỏ và đất mùn) chiếm gần 85% diện tích tự nhiên; tỷ lệ diện tích đất đồng bằng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp quá thấp (khoảng 3,5%) chứng tỏ sự hạn chế về khả năng sản xuất lương thực của huyện. Ngược lại thế mạnh của huyện là sự đa dạng hoá cây trồng cạn (cây công nghiệp, cây ăn quả, hoa màu ngắn ngày...), chăn nuôi gia súc và sản xuất, kinh doanh lâm nghiệp.

Với tài nguyên đất của huyện như trên, tính đến hết năm 2015 đất đai của huyện hiện đã được khai thác đưa vào sử dụng 52,03 nghìn ha, chiếm tới 98,01% quỹ đất đai của huyện. Trong đó sử dụng cho nông nghiệp là 46.635,10 ha, đất phi nông nghiệp là 5.398,24 ha và đất chưa sử dụng còn lại 1.055,77 ha.

1.2.2. Tài nguyên nước

                                * Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt ở Tân Lạc được cung cấp bởi 3 hệ thống suối và 5 hồ lớn. Dưới đây là tình hình cụ thể về tài nguyên nước mặt của huyện.

                                - Suối Chù: Bắt nguồn từ xã Phú Vinh, Trung Hòa, chạy theo thung lũng dọc theo đường 12B về phía Đông Nam; diện tích lưu vực 350 km2. Đây là một trong hai suối chính cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp của huyện.

                                - Suối Cái: Bắt nguồn từ xã Phong Phú và Phú Cường, chạy theo thung lũng Mường Bi dọc theo đường 12C (cũ) về phía Đông Nam; diện tích lưu vực 230 km2. Đây là nguồn nước mặt cung cấp nước tưới chính cho cánh đồng Mường Bi và các vùng đất nông nghiệp hai bên đường 12C (cũ).

                                - Suối Hoa: Bắt nguồn từ Thung Nai, huyện Cao Phong, chảy qua phía Bắc huyện rồi đổ vào sông Đà, diện tích lưu vực 250 km2.

                                - Các hồ chứa: Trên địa bàn huyện có 5 hồ chứa lớn: hồ Bưng, hồ Bông Canh, hồ Chù Bụa, hồ Bui Phoi và hồ Trọng.

                                * Nguồn nước ngầm: Hiện nay chưa có khảo sát kỹ về nguồn nước ngầm trong huyện, nhưng các địa phương ở vùng thấp đã phát hiện có nguồn nước giếng ở mạch sâu, còn ở vùng cao, nguồn nước ngầm không đồng nhất ở các vị trí khác nhau. Do đó trong quy hoạch, cần khảo sát và tính toán trữ lượng nước của từng điểm cụ thể để cung cấp nước cho sinh hoạt và một phần nước cho sản xuất.

1.2.3. Tài nguyên rừng

                                Theo số liệu hiện trạng sử dụng đất đai năm 2015, trên địa bàn huyện Tân Lạc hiện có 35.517,64 ha đất lâm nghiệp (chiếm 66,9% tổng diện tích đất tự nhiên), bao gồm: Rừng đặc dụng 5.476,82 ha; rừng phòng hộ 15.282,8 ha; rừng sản xuất 14.758,0 ha. Trong đó, diện tích đất có rừng là 29.168 ha (chiếm 82,12% tổng diện tích đất lâm nghiệp).

                                Nhìn chung hệ thực vật rừng khá phong phú; trong các khu rừng tự nhiên có tới 20 loài cây rừng tương đối phổ biến, trong đó có một số loại quý như dẻ, dổi, táu, sến...

                                Về trữ lượng nhìn chung thấp, rừng giàu và rừng trung bình còn rất ít, chủ yếu là rừng nghèo, theo điều tra sơ bộ có tới 60% là rừng non, trữ lượng rất thấp. Nguyên nhân của tình trạng này là do việc khai thác bừa bãi, tập tục đốt rừng làm rẫy của người dân và việc quản lý chưa chặt chẽ.

                                Do rừng tự nhiên bị suy thoái, môi trường sống của động vật rừng bị thu hẹp nên các loại thú quý hầu như không còn, hiện chỉ còn một số loại, như lợn rừng, khỉ, cầy, cáo, gà rừng, nai... nhưng số lượng không nhiều.

1.2.4. Tài nguyên khoáng sản

                Tài nguyên khoáng sản của huyện chủ yếu là đá vôi, với nhiều núi đá vôi có thể khai thác, sử dụng để sản xuất vật liệu xây dựng. Ngoài ra huyện còn có một số khoáng sản khác như quặng sắt, vàng sa khoáng, ăng ti mon, than đá... Tuy nhiên các loại này có trữ lượng thấp nên không thuận lợi cho khai thác công nghiệp.

1.2.5. Tài nguyên nhân văn

                                Trên địa bàn huyện phần lớn dân số là người Mường (chiếm 84,5% tổng dân số); ngoài ra còn có 15% người Kinh và 0,5% các dân tộc khác. Tân Lạc có nền văn hóa lâu đời với kho tàng văn hóa dân gian khá phong phú, bao gồm các thể loại thơ dài, bài mo, truyện cổ dân gian, dân ca, ví đúm, tục ngữ. Trong đó nền văn hóa Mường Bi là nền văn hóa đặc trưng với nhiều lễ hội, như hội Đooc Moong, hội ném còn, hội xuống đồng, hội cầu mưa, lễ rửa lá lúa, lễ cơm mới, lễ hội khai hạ... Trong đó phải kể đến lễ hội khai hạ Mường Bi; đây là lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc dân tộc Mường được tổ chức vào ngày mồng 8 tháng 3 âm lịch hàng năm. Đến với Lễ hội du khách sẽ được thưởng thức âm vang của tiếng cồng chiêng, uống rượu cần, các món ăn dân tộc...

                Trong lịch sử phát triển, các dân tộc anh em của Tân Lạc đã cùng nhau góp sức xây dựng huyện Tân Lạc ngày càng giàu đẹp. Mặc dù phong tục tập quán có những nét khác nhau nhưng ngày nay trong sản xuất đã có nhiều điểm tương đồng (cùng làm lúa nước và các cây màu ngô, đỗ tương, trồng cây ăn quả, chăn nuôi trâu bò, lợn,...). Trình độ văn hoá, khả năng ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất không ngừng được cải thiện và nâng cao. Giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng, các dân tộc được khuyến khích và ngày càng phát triển.

                Cảnh quan môi trường của huyện Tân Lạc đa dạng, phong phú và đẹp, với nhiều hang động đã được xếp hạng, tạo ra các điểm du lịch sinh thái, văn hóa góp phần phát triển kinh tế của huyện, như khu quần thể di tích lịch sử văn hóa Mường Bi; làng Mường cổ xóm Ải xã Phong Phú; động Hoa Tiên, động Thác Bờ, hang Bưng ở xã Ngòi Hoa; động Mường Chiềng ở khu 2 thị trấn Mường Khến; khu du lịch sinh thái núi Cột cờ (tiếng địa phương gọi là  Khụ Dọi); thác Trăng hai tầng ở xã Do Nhân; động Tớn ở xã Nam Sơn; núi đá vôi Pù Luông; Hang Muối, hang Bụt ở khu 3 thị trấn Mường Khến.

Với nền văn hoá Mường đậm đà bản sắc dân tộc; truyền thống cách mạng, cần cù sáng tạo, ý chí tự lực tự cường, khắc phục khó khăn của cộng đồng dân tộc cư trú trên địa bàn huyện và những danh lam thắng cảnh. Nếu các cấp chính quyền quan tâm đến việc giữ gìn phát huy bản sắc dân tộc; kế thừa và phát huy những kinh nghiệm, những thành quả đạt được; phát triển đa dạng các loại hình du lịch (du lịch sinh thái, leo núi, du lịch thăm thắng cảnh, văn hoá...) sẽ góp phần phát triển mạnh kinh tế - xã hội của huyện trong giai đoạn tới.

1.3. Thực trạng môi trường

Là một huyện miền núi có tỷ lệ che phủ rừng năm 2015 đạt khoảng 51,8% và hiện tại là huyện thuần nông, công nghiệp, đô thị đang được hình thành, chưa phát triển mạnh, nên hiện tại mức độ ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất đai ở Tân Lạc chưa nghiêm trọng.

1.3.1. Môi trường đất

Chất lượng môi trường đất Tân Lạc hiện nay đang bị tác động mạnh và có chiều hướng suy giảm, một số nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ô nhiễm môi trường đất như sau:

 - Do thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học sử dụng không đúng quy cách, bao bì, vỏ chai vứt bừa bãi trên đồng rộng; trong khi đó phân chuồng từ chăn nuôi lại xả trực tiếp ra môi trường, nhiều nơi còn sử dụng nước thải ra không qua xử lý để tưới.

- Do các hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và sinh hoạt là nguồn gây ô nhiễm đất một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Nguồn gây ô nhiễm trực tiếp là khi chúng được thải trực tiếp vào môi trường đất, nguồn gây ô nhiễm gián tiếp là chúng được thải vào môi trường nước, môi trường không khí nhưng do quá trình vận chuyển, lắng đọng chúng di chuyển đến đất và gây ô nhiễm đất.

- Do đặc điểm địa hình là miền núi nên các hiện tượng rửa trôi, sạt lở do mưa lũ, xói mòn đất cũng làm thay đổi hệ sinh thái trong môi trường đất, làm thoái hóa đất, suy thoái, ô nhiễm môi trường đất.

1.3.2. Môi trường nước

Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các sông, suối, ao hồ ở huyện là vấn đề cần được quan tâm.

Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn ngày càng gia tăng do dân số đang sinh sống ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc chưa được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao.

1.3.3. Môi trường không khí

Ô nhiễm không khí đang là một vấn đề đối với môi trường đô thị, cụm công nghiệp trên địa bàn huyện, tuy nhiên chưa đến mức quá nghiêm trọng. Ô nhiễm môi trường không khí có tác động xấu đối với sức khoẻ con người, ảnh hưởng xấu đến các hệ sinh thái và gây biến đổi khí hậu.

 

Ngoài ra còn các khí phát sinh từ giao thông, bụi, hoạt động sản xuất nông nghiệp còn lạc hậu ở nông thôn như: Dùng phân bón không đúng liều lượng và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cũng tạo ra một lượng khí thải tuy chưa gây hại nhiều đến sức khỏe người dân.

 Từ những vấn đề trên, trong những năm tới cần tăng cường tuyên truyền Luật bảo vệ môi trường, chỉ đạo sát sao việc kiểm tra công tác bảo vệ môi trường, cương quyết xử lý các trường hợp vi phạm về bảo vệ môi trường và cần dự kiến trước các biện pháp để kịp thời ngăn ngừa, hạn chế, khắc phục ô nhiễm, bảo vệ và phát triển bền vững các nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái trên địa bàn huyện.

2. Phân tích, đánh giá bổ sung thực trạng phát triển kinh tế - xã hội.[1]

Thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện Tân Lạc 5 năm giai đoạn 2011 – 2015 chịu sự tác động sâu sắc của tình hình kinh tế thế giới và trong nước bị suy thoái, đầu tư công bị cắt giảm. Tuy nhiên nhờ có sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao, quyết liệt của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện, sự vào cuộc của các cấp, các ngành, sự nỗ lực của nhân dân trong huyện cho nên tình hình kinh tế xã hội của huyện tiếp tục phát triển, kinh tế tăng trưởng với tốc độ cao, cơ sở hạ tầng được đầu tư nâng cấp, đời sống sinh hoạt, văn hoá tinh thần của nhân dân được nâng cao. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

2.1. Thực trạng phát triển kinh tế

2.1.1. Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Trong 5 năm qua (2011 - 2015) kinh tế của huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực, tăng trưởng kinh tế ổn định, bình quân đạt 11,8%/năm. Thu nhập bình quân đầu người năm 2015 đạt 25,9 triệu đồng/năm.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 40,5%, giảm 3,8% so với năm 2010; công nghiệp - xây dựng chiếm 24%; dich vụ chiếm 35,5%.

2.1.2. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế

a) Khu vực kinh tế nông nghiệp

Trong 5 năm qua, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản vẫn giữ vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của huyện. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu tổng sản phẩm xã hội (40,5%). Các ngành, các cấp đã tập trung chỉ đạo đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá; thực hiện có hiệu quả về đổi mới cơ cấu giống, mùa vụ, tăng cường đầu tư thâm canh, ứng dụng TBKT, đưa các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với thị trường vào sản xuất, nên giá trị hàng hoá nông nghiệp tăng nhanh. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất khu vực nông, lâm, nghiệp, thủy sản đạt 8,3%/năm. Dưới đây là một số nét về tình hình phát triển của từng ngành cụ thể trong nông, lâm nghiệp, thủy sản.

* Trồng trọt

Thực hiện chủ trương phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định đời sống nông dân. Trong 5 năm qua, trên địa bàn huyện đã cơ bản hoàn thành chuyển diện tích ruộng 1 vụ lên thành 2 - 3 vụ; ổn định quy hoạch diện tích đất trồng lúa, triển khai chuyển diện tích đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây trồng khác có giá trị kinh tế cao. Kết hợp giữa chuyển đổi cơ cấy cây trồng với tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm, tăng thu nhập cho nông dân.

Kết quả, trong 5 năm, diện tích đất gieo trồng của huyện bình quân hàng năm đạt 13.723 ha, trong đó đất trồng lúa đạt 4.638 ha. Tổng giá trị ngành trồng trọt đạt 467,589 tỷ đồng, chiếm 67% trong cơ cấu nông nghiệp. Tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt 41.539 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 503 kg/năm. Kết quả cụ thể một số loại cây trồng như sau:

- Cây lúa: Diện tích gieo trồng giai đoạn 2011 - 2015 hàng năm bình quân đạt 4.760 ha. Năm 2015, diện tích gieo trồng đạt 4638 ha, năng suất lúa đạt 52,46 tạ/ha, sản lượng lúa cả năm đạt 24.330 tấn.

- Cây ngô: Năm 2015, diện tích gieo trồng đạt 3.886,9 ha; năng suất 44,3 tạ/ha; sản lượng đạt 17.209,9 tấn.

- Cây mía: Diện tích gieo trồng tăng từ 1.500 ha năm 2011 lên 1.856,6 ha năm 2015; năng suất bình quân đạt 730 tạ/ha; sản lượng đạt 118.780 tấn.

- Cây lạc: Diện tích gieo trồng bình quân hàng năm đạt 288 ha; năng suất bình quân đạt 14,6 tạ/ha; sản lượng đạt 420 tấn.

- Cây ăn quả có múi: diện tích trồng cây có múi tăng dần, quy trình kỹ thuật chăm sóc được áp dụng rộng rãi hơn. Trong đó, cây bưởi diện tích trồng 156,6 ha, diện tích cho thu hoạch đạt 53,8 ha, sản lượng đạt 897,7 tấn; cây cam diện tích trồng 20,7 ha, diện tích cho thu hoạch 14,4 ha, sản lượng đạt 171 tấn; cây quýt diện tích trồng 42 ha, diện tích cho thu hoạch 26 ha, sản lượng đạt 145 tấn.

* Chăn nuôi

Chăn nuôi của huyện trong 5 năm qua phát triển khá ổn định, giá trị sản xuất ngày càng tăng. Tập quán chăn nuôi dần thay đổi, trình độ tham canh trong chăn nuôi ngày một nâng cao, đã có nhiều điển hình chăn nuôi giỏi và quy mô đàn tương đối lớn.

Chăn nuôi hiện nay đã chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập của hộ gia đình khu vực nông thôn. Tổng đàn vật nuôi được duy trì ổn định, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng (bình quân cả giai đoạn) đạt 4.490 tấn. Cụ thể:

- Chăn nuôi đại gia súc có xu hướng giảm dần (do đẩy mạnh thực hiện cơ giới hóa trong khâu làm đất).

+ Đàn trâu, năm 2010 có 14.620 con, đến năm 2015 giảm xuống còn 14.100 con;

+ Đàn bò, năm 2010 có 9.190 con, đến năm 2015 giảm xuống còn 8.100 con;

- Đàn lợn phát triển mạnh theo hướng nạc hóa, năm 2010 có 35.100 con đến năm 2015 đạt 44.500 con, tốc độ tăng trong 5 năm qua bình quân đạt 6,15%/năm.

- Đàn gia cầm phát triển mạnh theo hướng chăn công nghiệp, chăn nuôi trang trại, gia trại. Năm 2010 có 387 nghìn con, đến năm 2015 tăng lên 526,7 nghìn con, tốc độ tăng trong 5 năm qua bình quân đạt 6,36%/năm.

* Thủy sản

Sản xuất thủy sản tiếp tục phát triển cả về quy mô, chất lượng và giá trị. Kỹ thuật nuôi trồng tiên tiến đã được áp dụng ở nhiều nơi, đặc biệt là khu vực lòng hồ sông Đà. Năm 2015, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản đạt 141 ha, số lồng nuôi cá 300 lồng.

* Lâm nghiệp

Là huyện miền núi với quỹ đất lâm nghiệp trên 35 nghìn ha, đây là một thế mạnh của huyện. Tuy nhiên, hiện nay giá trị sản xuất lâm nghiệp mới chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản.

- Bằng nhiều nguồn vốn, công tác trồng rừng trên địa bàn huyện trong những năm qua vẫn được duy trì thường xuyên, kết quả trong 5 năm toàn huyện đã trồng được trên 4.000 ha rừng.

- Đi đôi với việc trồng rừng, công tác khoanh nuôi tái sinh rừng cũng được duy trì thường xuyên, công tác quản lý, bảo vệ rừng được thực hiện nghiêm chỉnh, không những đem lại hiệu quả cho ngành lâm nghiệp, tạo vẻ đẹp cảnh quan, bảo vệ môi trường,... mà còn góp phần đáng kể làm tăng thu nhập cho các hộ gia đình. Tỷ lệ độ che phủ rừng đến năm 2015 đạt 51,8%. Thu nhập từ rừng sản xuất bình quân đạt 10 triệu đồng/ha/năm.

Bảng 1: Tình hình phát triển khu vực kinh tế nông nghiệp trong những năm qua

 

Hạng mục

Đơn vị

Năm 2010

 Năm 2015

1. Trồng trọt

 

 

 

   - Giá trị sản xuất (giá 2010)

Tr. đồng

334.906

           467.589

   - Tổng DT gieo trồng cây HN

Ha

12.844

            13.723

   - Diện tích lúa cả năm

Ha

4.783

              4.638

   - Diện tích ngô cả năm

Ha

3.859

              3.887

   - Sản lượng lương thực có hạt

Tấn

40.397

            41.539

2. Chăn nuôi

 

 

 

   - Giá trị sản xuất (giá 2010)

Tr. đồng

124.408

           133.422

   - Đần trâu

Con

14.620

            14.100

   - Đàn bò

Con

9.190

              8.100

   - Đàn lợn

Con

35.145

            44.500

   - Đàn gia cầm

1000 con

386,89

                 526,7

3. Lâm Nghiệp

 

 

 

   - Giá trị sản xuất (giá 2010)

Tr. đồng

21.147

            35.595

   - Diện tích rừng sản xuất

Ha

15.866

            14.710

4. Thủy sản